1. Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ sơ sinh
Thai nhi sống phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ, khi ra đời trẻ phải thích
nghi với cuộc sống bên ngoài nhưng cơ thể còn rất yếu, chức năng các bộ phận
chưa hoàn chỉnh. Do đó trẻ dễ mắc bệnh nếu không được chăm sóc và nuôi dưỡng
cẩn thận, tỷ mỉ, sạch sẽ.
Ngay sau đẻ trẻ đã có phản xạ bú, cần cho trẻ bú mẹ ngay trong vòng 30 phút
đến 1 giờ. Việc bú sớm sẽ kích thích tạo sữa sớm và co hồi tốt tử cung của mẹ. Trong vài ngày đầu sữa tiết ra được gọi là sữa non. Sữa non
đặc, sánh, mầu vàng nhạt. Đặc tính của sữa non là rất bổ, đáp ứng đầy đủ nhu
cầu dinh dưỡng của trẻ mới đẻ, đồng thời chứa nhiều kháng thể có tác dụng bảo
vệ cơ thể chống nhiễm khuẩn, chống dị ứng. Sữa non lại giàu vitamin A giúp trẻ
phòng bệnh về mắt và giảm nhiễm khuẩn. Ngoài ra bú sữa non còn có tác dụng giúp
trẻ tống phân xu ra nhanh và chống vàng da.
Sau 1 tuần sữa tiết ra tiếp
theo được gọi là sữa trưởng thành. Khi cho trẻ bú, sữa này gồm sữa đầu bữa và
cuối bữa. Khoa học đã chứng minh rằng sữa cuối bữa chứa nhiều lipid/mỡ, là
nguồn cung cấp năng lượng cao cho trẻ, do đó cần phải cho trẻ bú kiệt một bên
vú rồi mới chuyển sang vú bên kia.
Muốn bảo vệ nguồn sữa mẹ thì
trẻ phải cho trẻ bú thường xuyên và có hiệu quả. Khi cho bú người mẹ phải bế
trẻ nằm thẳng, quay mặt và áp sát vào lòng mẹ, đợi trẻ mở rộng miệng để trẻ
ngậm sâu vào quầng thâm xung quanh núm vú, môi dưới trề ra và cằm chạm vào vú
mẹ, để trẻ bú thoải mái.
Khi người mẹ bận phải đi làm hoặc
trẻ không tự bú được thì mẹ phải vắt sữa mẹ cho trẻ uống bằng cốc, thìa. Nếu
dụng cụ vắt sữa và tay được đảm bảo vệ sinh sạch sẽ thì sữa mẹ vắt ra chỉ cần
đậy kín để nơi khô ráo, sạch sẽ có thể kéo dài khoảng 8 giờ mà không cần để
trong tủ lạnh. Ngoài ra, trong thời gian này người mẹ cần được ăn đủ chất dinh
dưỡng, uống nhiều nước, ngủ nhiều và luôn được gần gũi, bế ẵm con với tình cảm
yêu thương, đầm ấm.
2. Nuôi dưỡng và chăm sóc
trẻ có cân nặng sơ sinh thấp
Theo tổ chức Y tế Thế giới –
WHO, trẻ có cân nặng sơ sinh thấp là những trẻ có cân nặng lúc đẻ thấp dưới
2500g. Trẻ có cân nặng sơ sinh thấp bao gồm cả trẻ đẻ ra trước thời kỳ phát
triển bình thường trong tử cung (trẻ đẻ non) và tình trạng chậm phát triển
trong tử cung gồm cả trẻ đẻ đúng hạn hay quá hạn nhưng cân nặng không tương
xứng với tuổi thai (trẻ đẻ yếu) hoặc phối hợp cả hai.
a. Các yếu tố nguy cơ:
Trẻ có cân nặng sơ sinh thấp thường do nhiều nguyên nhân và các
yếu tố phối hợp với nhau. Nhiều nghiên cứu cho thấy khoảng 60% nguyên nhân là
từ phía bà mẹ:
-
Tình trạng dinh dưỡng kém của bà mẹ: ngay trước khi có thai nếu người mẹ
thiếu dinh dưỡng (cân nặng dưới 40kg và chiều cao cũng thấp dưới 145cm) có nguy
cơ đẻ con thấp cân. Khi có thai, tình trạng dinh dưỡng của mẹ liên quan
rõ rệt đến cân nặng thai nhi. Do nhu cầu dinh dưỡng cao hơn bình thường để đảm
bảo duy trì hoạt động sinh lý, tăng khối lượng máu, dịch mô, tử cung, vú, rau
thai, nước ối, dự trữ mỡ để tạo sữa sau đẻ, nên bà mẹ cần được ăn uống tốt hơn
bình thường. Nếu người mẹ trong 9 tháng mang thai mà không tăng được 10-12kg
thì thường do thiếu hụt dinh dưỡng và sẽ ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của
bào thai.
-
Mẹ bị bệnh tật: người mẹ nhiễm độc thai nghén hoặc có bệnh về sản phụ
khoa như nhiễm khuẩn đường sinh sản, u nang buồng trứng, hoặc các bệnh nhiễm
virus, nhiễm ký sinh trùng sốt rét, các bệnh tim mạch, thận, huyết áp thường có
nguy cơ gây đẻ non, suy dinh dưỡng bào thai.
-
Chăm sóc bà mẹ trước khi sinh yếu kém: không được khám thai đầy đủ, khoảng
cách giữa các lần sinh con quá ngắn (dưới 3 năm), không được nghỉ ngơi trước
khi đẻ... thường là những yếu tố nguy cơ đẻ con nhẹ cân.
b. Cách chăm sóc và nuôi dưỡng đặc biệt đối với trẻ có cân nặng sơ sinh
thấp:
Hầu hết trẻ có cân nặng sơ sinh thấp đều có biểu hiện thiếu sót
nhiều hay ít về chức năng của các bộ phận và các hệ thống trong cơ thể.
-
Chăm sóc đặc biệt phải được tiến hành ngay sau đẻ và cần
phải tôn trọng các nguyên tắc sau: - Đảm bảo vô khuẩn tuyệt đối, nhất là với trẻ có cân nặng
lúc đẻ dưới 1500g, vô khuẩn ở phòng dưỡng nhi và nhân viên phục vụ.
- Chống hạ thân nhiệt: luôn giữ nhiệt độ cơ thể 36,5-370C,
nhiệt độ phòng phải thích hợp. Nếu trẻ nặng 2500g-2000g thì nhiệt độ phòng
khoảng 27-280C, trẻ có cân nặng 2000g-1500g thì nhiệt độ phòng phải
đạt 30-320C. Nếu trẻ chỉ nặng dưới 1500g, nhiệt độ phòng phải cao
hơn có khi tới 33-350C thì trẻ mới duy trì được thân nhiệt. Điều đơn
giản nhưng quan trọng hơn là ngay sau sinh cần cho trẻ tiếp xúc "da kề
da" để sưởi ấm cho trẻ bằng nhiệt độ cơ thể của mẹ, chăm sóc theo kiểu
“chuột túi” (Kangaroo) bằng cách đặt trẻ vào giữa 2 bầu vú phía trong áo của mẹ
sao cho da trẻ áp vào ngực mẹ. Nếu trẻ bị hạ đường huyết thì cũng sớm bị hạ
thân nhiệt.
-
Nuôi dưỡng đặc biệt: cần phải cung cấp đầy đủ dinh dưỡng.
Tùy theo từng trẻ, nếu trẻ chưa có khả năng ăn bằng đường miệng thì có thể cho
truyền tĩnh mạch dung dịch glucose 5-10%; rồi chuyển dần sang cho bú sữa mẹ.
Nếu trẻ ăn được bằng đường miệng và trẻ có phản xạ bú thì cho bú mẹ trực tiếp
là tốt nhất và bú sớm trong vòng 30 phút sau đẻ; nếu trẻ không bú được thì vắt
sữa mẹ cho ăn bằng cốc, thìa.
- Sữa của bà mẹ đẻ non dùng nuôi trẻ đẻ non rất phù hợp vì sữa của bà mẹ đẻ
non vẫn có nhiều protein và vitamin A, nhiều yếu tố kháng khuẩn giúp trẻ tăng
sức đề kháng, chống đỡ lại sự tấn công của vi khuẩn.
- Sự nuôi dưỡng phụ thuộc vào
cân nặng và số tuần tuổi thai của trẻ:
- Nếu trẻ có tuổi thai dưới 30 tuần thường phải ăn qua ống
thông mũi - dạ dày bằng sữa mẹ vắt ra. Bà mẹ có thể cho con mút ngón tay của
mình trong khi trẻ đang ăn bằng ống thông. Điều này có thể kích thích hệ tiêu
hoá của trẻ. Nếu có thể mẹ bế con "da kề da" giúp cho sự gắn bó tình
cảm mẹ con và giúp mẹ tạo sữa.
- Trẻ từ 30-32 tuần thai có thể ăn bằng cốc, thìa 1-2
lần/ngày kết hợp với những bữa ăn bằng ống thông.
- Trẻ từ có 32 tuần thai trở lên bà mẹ có thể đặt trẻ vào
vú ngay sau khi đẻ. Lúc đầu có thể trẻ chỉ tìm và liếm núm vú hoặc trẻ có thể
mút một lúc. Tiếp tục cho ăn sữa mẹ vắt ra bằng ống thông hoặc bằng cốc để đảm
bảo trẻ nhận được đủ lượng sữa theo nhu cầu. Khi trẻ bắt đầu mút đầu vú có hiệu
quả, trong mỗi bữa bú trẻ có thể hay ngừng bú, nhưng không nên tách trẻ khỏi vú
mẹ quá nhanh, trẻ có thể tiếp tục bú tới 1 giờ nếu cần thiết. Nên xen kẽ
giữa cho trẻ bú mẹ và cho ăn bằng cốc.
- Trẻ từ 34-36 tuần trở lên (đôi khi sớm hơn) thường có
thể bú mẹ trực tiếp ngay sau sinh. Tuy nhiên, đôi khi vẫn cần cho ăn bằng cốc
nếu trẻ bú ít, cho trẻ bú nhiều lần trong ngày. Trẻ có cân nặng sơ sinh thấp
chỉ cần một lượng sữa nhỏ trong những ngày đầu. Bà mẹ cố gắng vắt sữa non ra dù
chỉ có ít vì rất cần thiết và tốt cho trẻ.
- Số lượng sữa cho trẻ ăn tuỳ theo
tuổi và cân nặng của trẻ:
▫
Tuần đầu:
Ngày thứ nhất: 60
ml/kg/24giờ
Ngày thứ hai: 80 ml/kg/24giờ
Ngày thứ ba: 100
ml/kg/24giờ
Ngày thứ tư: 120
ml/kg/24giờ
Ngày thứ năm: 140
ml/kg/24giờ
Ngày thứ sáu: 160 mll/kg/24giờ
Ngày thứ bảy: 180 ml/kg/24giờ
Số bữa ăn chia làm
8-10 lần/ ngày.
▫
Từ tuần thứ hai:
duy trì số lượng sữa 180-200 ml/kg/ngày, tiếp tục cho tới khi bú mẹ đầy đủ thì
cho bú sữa mẹ hoàn toàn.
▫
Nếu số lượng sữa
mẹ vắt ra mỗi bữa nhiều hơn nhu cầu của trẻ thì nên cho trẻ ăn sữa cuối bữa vì
rất giầu lipid để trẻ nhận thêm năng lượng.
▫ Nếu số lượng sữa mẹ vắt ra ít hơn nhu
cầu của trẻ thì tốt nhất là cho trẻ ăn thêm sữa của bà mẹ khác nếu có điều
kiện.
▫
Số lượng sữa mỗi
bữa có thể khác nhau vì trẻ ăn lúc nhiều lúc ít. Vì vậy cần tính lượng sữa
trong 24 giờ đề biết trẻ có được bú đủ hay không.
PGS. TS. Nguyễn Văn Hoan
Số lượt đọc:
343
-
Cập nhật lần cuối:
22/12/2010 04:09:04 PM | Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV Hiện nay theo ước tính của WHO/UNICEF thì phụ nữ có thai bị nhiễm HIV
(Human - Immunodeficiency Virus: virus gây suy giảm miễn dịch ở người) có nguy
cơ lây truyền sang con là 30%. Lây truyền qua các giai đoạn: 5% lây truyền
trong thời gian mang thai; 10% trong quá trình sinh đẻ và 15% nuôi con bằng sữa
mẹ (NCBSM) sau sinh. Trong cộng đồng nếu những bà mẹ bị nhiễm HIV đều nuôi con
bằng sữa mẹ ước tính có khoảng 4% trẻ sơ sinh bị lây nhiễm. ở Việt Nam, tỷ lệ
lây nhiễm HIV từ mẹ sang con có thấp hơn nhưng có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây. Bài đã đăng: Ăn bổ sung hợp lý cho trẻ từ 7 - 12 tháng tuổi Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất
đối với trẻ, nhưng đến một tháng tuổi nhất định (sau 6 tháng tuổi), vì sữa mẹ
không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng lớn lên của trẻ nên trẻ cần
được ăn bổ sung. Để trẻ phát triển tốt, khoẻ mạnh và thông minh cần cho trẻ ăn
bổ sung hợp lý. Nhu cầu nước và các chất điện giải khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần
thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng
acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình
trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra
mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và
khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính. Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến Nghị Chỉ cần một lượng rất nhỏ các vi chất dinh dưỡng là có thể đáp ứng được nhu cầu cho cơ thể người ta hàng ngày, nhưng các vi chất dinh dưỡng lại có vai trò rất thiết yếu trong việc duy trì và nâng cao tình trạng dinh dưỡng cũng như nâng cao sức khoẻ. Trong hơn 10 năm qua, người ta đã có thêm các hiểu biết về vai trò của các vi chất dinh dưỡng trong cơ thể, về nguồn thực phẩm, về nhu cầu khuyến nghị và giới hạn tiêu thụ tối đa.
Đảm bảo nhu cầu các chất Glucid, chất xơ và đường
Ăn uống đảm bảo nhu cầu Lipid Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất
(1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3Kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1
Kcal/1gam và glucid 4,1Kcal/1gam). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo, đồng
thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A,
D, E và K). Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong dầu mỡ này phụ
thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể. Nhu cầu protein khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Protein và các acid amin đã được xác định là những chất dinh dưỡng quan trọng số một hay được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng khi được hấp thu vào cơ thể dưới dạng các acid amin, protein có các vai trò hết sức quan trọng Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) trong tiếng Anh là Recommended Dietary Allowances (RDAs) (WHO/SEA-RDA, 2005) theo y văn và dinh dưỡng học quốc tế được định nghĩa là:
Mức tiêu thụ năng lượng và các chất dinh dưỡng được coi là đầy đủ để duy trì sức khoẻ và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư. |