Trang chủ
Giới thiệu
Nghiên cứu -Dự án
Đào tạo
Phòng khám đa khoa
Tư vấn sức khỏe
Dinh dưỡng
Liên hệ
Webmail
   Dinh dưỡng trẻ em         Khám & tư vấn dinh dưỡng         Thông tin dinh dưỡng     
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng trẻ em
Khám & tư vấn dinh dưỡng
Thông tin dinh dưỡng

Nhu cầu protein khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam

   
04:44' PM - Thứ sáu, 12/11/2010

Protein và các acid amin đã được xác định là những chất dinh dưỡng quan trọng số một hay được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng khi được hấp thu vào cơ thể dưới dạng các acid amin, protein có các vai trò hết sức quan trọng sau đây:

- Là nguyên vật liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể.

- Là thành phần chính của các kháng thể giúp cơ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, thực hiện chức năng miễn dịch.

- Là thành phần của các men và các nội tiết tố (hormon) rất quan trọng trong hoạt động chuyển hoá của cơ thể.

- Có vai trò đặc biệt quan trọng trong di truyền, hình thành và hoàn thiện hệ thần kinh giúp cơ thể phát triển cả về trí tuệ và tầm vóc.

-Là nguồn cung cấp năng lượng khi cơ thể bị thiếu năng lượng ăn vào (1 gam protein cung cấp 4,1 Kcal).

Năm 1931, một bác sĩ người Anh đã mô tả một căn bệnh mà ông gọi là Kwashiorkor (đứa trẻ đỏ). Trong suốt một thời gian dài, người ta vẫn nhầm đó là một bệnh do thiếu vitamin PP (Pellagra). Sau các báo cáo khảo sát ở nhiều nước châu Phi (1951) và Uganda (1954) thuật ngữ Kwashiorkor được sử dụng chính thức làm tên gọi bệnh suy dinh dưỡng rất nặng do thiếu protein. Thực chất đó là bệnh suy dinh dưỡng thể phù do thiếu protein nghiêm trọng đồng thời thiếu cả năng lượng. Đây là một bệnh thường gặp ở lứa tuổi ăn bổ sung hoặc ăn sam/ăn dặm. Năm 1959, Jelliffe dùng thuật ngữ suy dinh dưỡng protein năng lượng (PEM) nghĩa là vừa thiếu protein vừa thiếu năng lượng, vì nhận thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh suy đinh dưỡng thể phù Kwashiorkor với suy dinh dưỡng thể teo đét rất nặng do vừa thiếu năng lượng nghiêm trọng vừa thiếu cả protein (tên khoa học là Marasmus).

Hiện nay, rất hiếm gặp các thể suy dinh dưỡng rất nặng này trên cộng đồng, nhưng suy dinh dưỡng nặng và vừa vẫn còn là bệnh rất phổ biến ở nước ta cũng như trong khu vực và nhiều nước đang phát triển. Vì vậy, cuộc chiến nhằm loại trừ bệnh suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng, trước hết là ở trẻ em và bà mẹ vẫn đang tiếp diễn. Đồng thời, việc xây dựng nhu cầu protein khuyến nghị theo lứa tuổi làm cơ sở cho các chương trình can thiệp xử trí SDD protein năng lượng cũng như cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao sức khoẻ, phát huy hết tiềm năng phát triển triển trí tuệ và tầm vóc của người Việt Nam trong những năm tới là rất thực tiễn và cần thiết.

1. Nhu cầu Protein khuyến nghị đối với trẻ em từ sơ sinh đến 9 tuổi

Do bị ảnh hưởng của chiến tranh và thiếu dinh dưỡng kéo dài qua nhiều thế hệ, những năm gần đây, mặc dù đã có tiến triển đáng khích lệ, cân nặng và chiều cao của trẻ em Việt Nam hiện nay vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với quốc tế và khu vực. Nếu dựa vào cân nặng thực tế của trẻ em Việt Nam để xác định nhu cầu về năng lượng và protein thì chắc chắn sẽ không đảm bảo đủ protein để phát huy hết tiềm năng phát triển tầm vóc thể lực và về trí tuệ của trẻ. Do đó Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế đã dựa vào cân nặng của quần thể tham chiếu NCHS/WHO 2005 để đưa ra các mức nhu cầu khuyến nghị về protein cho trẻ em Việt Nam như sau:

1.1. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ nhỏ đang bú mẹ

a. Đối đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi:

Như trong phần định nghĩa, trong khoảng thời gian này (tức là từ khi sinh ra cho đến khi trẻ được tròn 179 ngày tuổi) theo khuyến cáo của WHO/UNICEF, cần thực hiện cho trẻ bú hoàn toàn sữa mẹ mà không cần cho trẻ ăn thêm hoặc uống bất cứ một loại thức ăn hay đồ uống gì khác (kể cả nước lọc), trừ thuốc (khi trẻ bị bệnh/ốm). Bởi vì trong giai đoạn này, sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết để cho trẻ phát triển khỏe mạnh. Hơn nữa, sữa mẹ còn cung cấp cho trẻ các kháng thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng.

Bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 7 nghĩa là từ khi trẻ được vừa tròn 180 ngày tuổi trở đi.

Tuy nhiên, trong trường hợp bà mẹ (vì bất kể một lý do nào đó) không có sữa hoặc không thể cho con bú được, phải sử dụng các thức ăn thay thế sữa mẹ cho trẻ. Theo khuyến cáo của WHO/UNICEF, nhu cầu protein theo tháng tuổi phải đạt được các mức như trong bảng 6.

Bảng 6. Nhu cầu protein khuyến nghị cho trẻ đang bú mẹ (*)

Tuổi (tháng)

Lượng protein trung bình
(g/kg cân nặng/ngày)

Trẻ trai

Trẻ gái

< 1 tháng

2,46

2,39

1 - <2 tháng

1,93

1,93

2 - <3 tháng

1,74

1,78

3 - <4 tháng

1,49

1,53

Từ 4 đến dưới
12 tháng tuổi

Nhu cầu protein

Số lượng (g/ngày) *

Tỷ lệ protein động vật (%)

Trẻ từ 4 - < 6 tháng

12

100

Trẻ tròn 6 tháng

12

100

Trẻ 7–12 tháng tuổi

21- 25

70

* Không phân biệt trai gái, với năng lượng do protein cung cấp là từ 12% - 15% với mức sử dụng protein (NPU) ước tính = 70%.

b. Nhu cầu protein cho trẻ từ 1 đến 9 tuổi:

Có thể do vào những năm 90 chất lượng protein khẩu phần thấp (NPU = khoảng 60% mà nhu cầu protein đối với các nhóm trẻ từ 1 đến 9 tuổi ở Việt Nam cao hơn. Hiện nay, căn cứ vào khuyến nghị của quốc tế và khu vực, nhu cầu protein khuyến nghị tuy giữ nguyên về số lượng, nhưng chất lượng protein đã được cải thiện (NPU ước tính = 70%), do đó thực chất là nhu cầu protein đã được tăng lên để đáp ứng yêu cầu phát triển về trí tuệ và tầm vóc tương lai của lứa tuổi này.

Tương ứng với mức nhu cầu năng lượng, nhu cầu protein khuyến nghị và tính cân đối của khẩu phần trẻ em đến 9 tuổi được xác định nằm trong khoảng dao động như trình bày trong bảng 7 dưới đây:


Bảng 7. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ dưới 10 tuổi
theo nhóm tuổi

Nhóm tuổi

Nhu cầu protein (g/ngày)

Yêu cầu tỷ lệ
protein động vật (%)

Với NL từ protein = 12% - 15%,

NPU uớc tính = 70%

1-3 tuổi *

35 44

³ 60

4-6 tuổi

44 – 55

³ 50

7-9 tuổi

55 – 64

³ 50

* Sữa mẹ có đủ các acid amin ở tỷ lệ cân đối giúp trẻ tăng trưởng tốt, vì vậy cần khuyến khích các bà mẹ cho con bú kéo dài đến trên 2 tuổi.

1.2. Nhu cầu protein khuyến nghị cho trẻ em lứa tuổi vị thành niên

Theo định nghĩa trên, hiện nay trẻ em từ 10 - 18 tuổi được xác định là lứa tuổi vị thành niên. Nhu cầu protein trong lứa tuổi này cần được áp dụng dựa vào nhóm tuổi, giới, yêu cầu cân đối giữa P với L và G, giá trị hệ số sử dụng protein (NPU) và tỷ lệ protein trong các thức ăn nguồn gốc động vật.

Đỗ xào thịt bò - một món ăn bổ sung chất đạm cao

Theo cách này, nhu cầu tối thiểu, tối đa về protein (tính bằng gam/ngày) và tính cân đối của khẩu phần trẻ em vị thành niên theo nhóm tuổi, giới được tính toán và trình bày trong bảng 8.


Bảng 8. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ em lứa tuổi vị thành niên (10 - 18 tuổi)

Giới tính

Nhóm tuổi

Nhu cầu protein (g/ngày), với NL từ protein=12-14%, NPU=70%

Yêu cầu tỷ lệ protein động vật (%)

Nữ

10 - 12

60 – 70

35 - 40

13 - 15

66 – 77

35 - 40

16 - 18

67 – 78

35 - 40

Nam

10 - 12

63 – 74

35 - 40

13 - 15

80 – 93

35 - 40

16 - 18

89 – 104

35 - 40

2. Nhu cầu protein khuyến nghị cho phụ nữ trưởng thành

Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị cho người trưởng thành vẫn để mức tối thiểu là 1,25g/kg/ngày (theo FAO/WHO/UNU, (1985) do trên thực tế mức tiêu thụ protein và chất lượng protein đã tăng lên (NPU ước tính = 70).

Với năng lượng do protein cung cấp giao động từ 12-14% tổng số năng lượng (trong đó protein động vật chiếm 30 - 35% tổng số protein), nhu cầu về số lượng protein tối thiểu và tối đa theo tuổi, giới và mức độ lao động của phụ nữ Việt Nam được tính toán và ghi trong bảng 9.

Bảng 9. Nhu cầu protein khuyến nghị tối thiểu và tối đa
cho phụ nữ trưởng thành theo lứa tuổi, mức độ lao động
và cơ cấu năng lượng P:G:L

Tuổi

Loại lao động

Nhu cầu protein (g/ngày)

Với năng lượng từ protid = 12 - 14%, NPU=70%

19-30

Nhẹ

66 – 77

Vừa

69 – 80

Nặng

78 – 91

31-60

Nhẹ

63 – 73

Vừa

66 – 77

Nặng

75 – 87

>60

Nhẹ

54 – 63

Vừa

57 – 66

Nặng

66 – 77

Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị đối với phụ nữ có thai có thể áp dụng theo thai kỳ và bà mẹ đang cho con bú theo giai đoạn cho con bú, không chỉ trong 6 tháng đầu mà còn kéo dài hơn đến hơn 2 năm khi có điều kiện (bảng 10).



Bảng 10. Nhu cầu protein khuyến nghị
đối với phụ nữ mang thai và bà mẹ cho con bú

Tình trạng sinh lý

Nhu cầu protein (g/ngày)

(với NPU = 70%)

Phụ nữ đang mang thai 6 tháng đầu

Nhu cầu bình thường + 10 đến 15

Phụ nữ đang mang thai 3 tháng cuối

Nhu cầu bình thường + 12 đến 18

Bà mẹ cho con bú 6 tháng đầu tiên sau khi sinh con

Nhu cầu bình thường + 23 (từ 20 đến 25)

Bà mẹ cho con bú từ tháng thứ 7 sau sinh đến khi cai sữa

Nhu cầu bình thường + 17 (từ 16 đến 19)

PGS. TS. Phạm Văn Hoan

Số lượt đọc:  616  -  Cập nhật lần cuối:  12/11/2010 05:16:24 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng: