Protein và các acid amin đã được xác định là những chất dinh dưỡng quan trọng số một hay được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng khi được hấp thu vào cơ thể dưới dạng các acid amin, protein có các vai trò hết sức quan trọng sau đây:
- Là nguyên vật liệu để cấu trúc, xây dựng và tái tạo các tổ chức trong cơ thể.
- Là thành phần chính của các kháng thể giúp cơ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn, thực hiện chức năng miễn dịch.
- Là thành phần của các men và các nội tiết tố (hormon) rất quan trọng trong hoạt động chuyển hoá của cơ thể.
- Có vai trò đặc biệt quan trọng trong di truyền, hình thành và hoàn thiện hệ thần kinh giúp cơ thể phát triển cả về trí tuệ và tầm vóc.
-Là nguồn cung cấp năng lượng khi cơ thể bị thiếu năng lượng ăn vào (1 gam protein cung cấp 4,1 Kcal).
Năm 1931, một bác sĩ người Anh đã mô tả một căn bệnh mà ông gọi là Kwashiorkor (đứa trẻ đỏ). Trong suốt một thời gian dài, người ta vẫn nhầm đó là một bệnh do thiếu vitamin PP (Pellagra). Sau các báo cáo khảo sát ở nhiều nước châu Phi (1951) và Uganda (1954) thuật ngữ Kwashiorkor được sử dụng chính thức làm tên gọi bệnh suy dinh dưỡng rất nặng do thiếu protein. Thực chất đó là bệnh suy dinh dưỡng thể phù do thiếu protein nghiêm trọng đồng thời thiếu cả năng lượng. Đây là một bệnh thường gặp ở lứa tuổi ăn bổ sung hoặc ăn sam/ăn dặm. Năm 1959, Jelliffe dùng thuật ngữ suy dinh dưỡng protein năng lượng (PEM) nghĩa là vừa thiếu protein vừa thiếu năng lượng, vì nhận thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa bệnh suy đinh dưỡng thể phù Kwashiorkor với suy dinh dưỡng thể teo đét rất nặng do vừa thiếu năng lượng nghiêm trọng vừa thiếu cả protein (tên khoa học là Marasmus).
Hiện nay, rất hiếm gặp các thể suy dinh dưỡng rất nặng này trên cộng đồng, nhưng suy dinh dưỡng nặng và vừa vẫn còn là bệnh rất phổ biến ở nước ta cũng như trong khu vực và nhiều nước đang phát triển. Vì vậy, cuộc chiến nhằm loại trừ bệnh suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng, trước hết là ở trẻ em và bà mẹ vẫn đang tiếp diễn. Đồng thời, việc xây dựng nhu cầu protein khuyến nghị theo lứa tuổi làm cơ sở cho các chương trình can thiệp xử trí SDD protein năng lượng cũng như cải thiện tình trạng dinh dưỡng, nâng cao sức khoẻ, phát huy hết tiềm năng phát triển triển trí tuệ và tầm vóc của người Việt Nam trong những năm tới là rất thực tiễn và cần thiết.
1. Nhu cầu Protein khuyến nghị đối với trẻ em từ sơ sinh đến 9 tuổi
Do bị ảnh hưởng của chiến tranh và thiếu dinh dưỡng kéo dài qua nhiều thế hệ, những năm gần đây, mặc dù đã có tiến triển đáng khích lệ, cân nặng và chiều cao của trẻ em Việt Nam hiện nay vẫn còn ở mức thấp hơn nhiều so với quốc tế và khu vực. Nếu dựa vào cân nặng thực tế của trẻ em Việt Nam để xác định nhu cầu về năng lượng và protein thì chắc chắn sẽ không đảm bảo đủ protein để phát huy hết tiềm năng phát triển tầm vóc thể lực và về trí tuệ của trẻ. Do đó Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế đã dựa vào cân nặng của quần thể tham chiếu NCHS/WHO 2005 để đưa ra các mức nhu cầu khuyến nghị về protein cho trẻ em Việt Nam như sau:
1.1. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ nhỏ đang bú mẹ
a. Đối đối với trẻ dưới 6 tháng tuổi:
Như trong phần định nghĩa, trong khoảng thời gian này (tức là từ khi sinh ra cho đến khi trẻ được tròn 179 ngày tuổi) theo khuyến cáo của WHO/UNICEF, cần thực hiện cho trẻ bú hoàn toàn sữa mẹ mà không cần cho trẻ ăn thêm hoặc uống bất cứ một loại thức ăn hay đồ uống gì khác (kể cả nước lọc), trừ thuốc (khi trẻ bị bệnh/ốm). Bởi vì trong giai đoạn này, sữa mẹ có đầy đủ các chất dinh dưỡng cần thiết để cho trẻ phát triển khỏe mạnh. Hơn nữa, sữa mẹ còn cung cấp cho trẻ các kháng thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm trùng.
Bắt đầu cho trẻ ăn bổ sung từ tháng thứ 7 nghĩa là từ khi trẻ được vừa tròn 180 ngày tuổi trở đi.
Tuy nhiên, trong trường hợp bà mẹ (vì bất kể một lý do nào đó) không có sữa hoặc không thể cho con bú được, phải sử dụng các thức ăn thay thế sữa mẹ cho trẻ. Theo khuyến cáo của WHO/UNICEF, nhu cầu protein theo tháng tuổi phải đạt được các mức như trong bảng 6.
Bảng 6. Nhu cầu protein khuyến nghị cho trẻ đang bú mẹ (*)
|
Tuổi (tháng) |
Lượng protein trung bình (g/kg cân nặng/ngày) |
|
Trẻ trai |
Trẻ gái |
|
< 1 tháng |
2,46 |
2,39 |
|
1 - <2 tháng |
1,93 |
1,93 |
|
2 - <3 tháng |
1,74 |
1,78 |
|
3 - <4 tháng |
1,49 |
1,53 |
|
Từ 4 đến dưới 12 tháng tuổi |
Nhu cầu protein |
|
Số lượng (g/ngày) * |
Tỷ lệ protein động vật (%) |
|
Trẻ từ 4 - < 6 tháng |
12 |
100 |
|
Trẻ tròn 6 tháng |
12 |
100 |
|
Trẻ 7–12 tháng tuổi |
21- 25 |
70 |
* Không phân biệt trai gái, với năng lượng do protein cung cấp là từ 12% - 15% với mức sử dụng protein (NPU) ước tính = 70%.
b. Nhu cầu protein cho trẻ từ 1 đến 9 tuổi:
Có thể do vào những năm 90 chất lượng protein khẩu phần thấp (NPU = khoảng 60% mà nhu cầu protein đối với các nhóm trẻ từ 1 đến 9 tuổi ở Việt Nam cao hơn. Hiện nay, căn cứ vào khuyến nghị của quốc tế và khu vực, nhu cầu protein khuyến nghị tuy giữ nguyên về số lượng, nhưng chất lượng protein đã được cải thiện (NPU ước tính = 70%), do đó thực chất là nhu cầu protein đã được tăng lên để đáp ứng yêu cầu phát triển về trí tuệ và tầm vóc tương lai của lứa tuổi này.
Tương ứng với mức nhu cầu năng lượng, nhu cầu protein khuyến nghị và tính cân đối của khẩu phần trẻ em đến 9 tuổi được xác định nằm trong khoảng dao động như trình bày trong bảng 7 dưới đây:
Bảng 7. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ dưới 10 tuổi theo nhóm tuổi
|
Nhóm tuổi |
Nhu cầu protein (g/ngày) |
Yêu cầu tỷ lệ protein động vật (%) |
|
Với NL từ protein = 12% - 15%,
NPU uớc tính = 70% |
|
1-3 tuổi * |
35 – 44 |
³ 60 |
|
4-6 tuổi |
44 – 55 |
³ 50 |
|
7-9 tuổi |
55 – 64 |
³ 50 |
* Sữa mẹ có đủ các acid amin ở tỷ lệ cân đối giúp trẻ tăng trưởng tốt, vì vậy cần khuyến khích các bà mẹ cho con bú kéo dài đến trên 2 tuổi.
1.2. Nhu cầu protein khuyến nghị cho trẻ em lứa tuổi vị thành niên
Theo định nghĩa trên, hiện nay trẻ em từ 10 - 18 tuổi được xác định là lứa tuổi vị thành niên. Nhu cầu protein trong lứa tuổi này cần được áp dụng dựa vào nhóm tuổi, giới, yêu cầu cân đối giữa P với L và G, giá trị hệ số sử dụng protein (NPU) và tỷ lệ protein trong các thức ăn nguồn gốc động vật.

Đỗ xào thịt bò - một món ăn bổ sung chất đạm cao
Theo cách này, nhu cầu tối thiểu, tối đa về protein (tính bằng gam/ngày) và tính cân đối của khẩu phần trẻ em vị thành niên theo nhóm tuổi, giới được tính toán và trình bày trong bảng 8.
Bảng 8. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với trẻ em lứa tuổi vị thành niên (10 - 18 tuổi)
|
Giới tính |
Nhóm tuổi |
Nhu cầu protein (g/ngày), với NL từ protein=12-14%, NPU=70% |
Yêu cầu tỷ lệ protein động vật (%) |
|
Nữ |
10 - 12 |
60 – 70 |
35 - 40 |
|
13 - 15 |
66 – 77 |
35 - 40 |
|
16 - 18 |
67 – 78 |
35 - 40 |
|
Nam |
10 - 12 |
63 – 74 |
35 - 40 |
|
13 - 15 |
80 – 93 |
35 - 40 |
|
16 - 18 |
89 – 104 |
35 - 40 |
2. Nhu cầu protein khuyến nghị cho phụ nữ trưởng thành
Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị cho người trưởng thành vẫn để mức tối thiểu là 1,25g/kg/ngày (theo FAO/WHO/UNU, (1985) do trên thực tế mức tiêu thụ protein và chất lượng protein đã tăng lên (NPU ước tính = 70).
Với năng lượng do protein cung cấp giao động từ 12-14% tổng số năng lượng (trong đó protein động vật chiếm 30 - 35% tổng số protein), nhu cầu về số lượng protein tối thiểu và tối đa theo tuổi, giới và mức độ lao động của phụ nữ Việt Nam được tính toán và ghi trong bảng 9.
Bảng 9. Nhu cầu protein khuyến nghị tối thiểu và tối đa cho phụ nữ trưởng thành theo lứa tuổi, mức độ lao động và cơ cấu năng lượng P:G:L
|
Tuổi |
Loại lao động |
Nhu cầu protein (g/ngày)
Với năng lượng từ protid = 12 - 14%, NPU=70% |
|
19-30 |
Nhẹ |
66 – 77 |
|
Vừa |
69 – 80 |
|
Nặng |
78 – 91 |
|
31-60 |
Nhẹ |
63 – 73 |
|
Vừa |
66 – 77 |
|
Nặng |
75 – 87 |
|
>60 |
Nhẹ |
54 – 63 |
|
Vừa |
57 – 66 |
|
Nặng |
66 – 77 |
Hiện nay, nhu cầu protein khuyến nghị đối với phụ nữ có thai có thể áp dụng theo thai kỳ và bà mẹ đang cho con bú theo giai đoạn cho con bú, không chỉ trong 6 tháng đầu mà còn kéo dài hơn đến hơn 2 năm khi có điều kiện (bảng 10).
Bảng 10. Nhu cầu protein khuyến nghị đối với phụ nữ mang thai và bà mẹ cho con bú
|
Tình trạng sinh lý |
Nhu cầu protein (g/ngày) |
|
(với NPU = 70%) |
|
Phụ nữ đang mang thai 6 tháng đầu |
Nhu cầu bình thường + 10 đến 15 |
|
Phụ nữ đang mang thai 3 tháng cuối |
Nhu cầu bình thường + 12 đến 18 |
|
Bà mẹ cho con bú 6 tháng đầu tiên sau khi sinh con |
Nhu cầu bình thường + 23 (từ 20 đến 25) |
|
Bà mẹ cho con bú từ tháng thứ 7 sau sinh đến khi cai sữa |
Nhu cầu bình thường + 17 (từ 16 đến 19) |
PGS. TS. Phạm Văn Hoan Số lượt đọc:
616
-
Cập nhật lần cuối:
12/11/2010 05:16:24 PM | Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV Hiện nay theo ước tính của WHO/UNICEF thì phụ nữ có thai bị nhiễm HIV
(Human - Immunodeficiency Virus: virus gây suy giảm miễn dịch ở người) có nguy
cơ lây truyền sang con là 30%. Lây truyền qua các giai đoạn: 5% lây truyền
trong thời gian mang thai; 10% trong quá trình sinh đẻ và 15% nuôi con bằng sữa
mẹ (NCBSM) sau sinh. Trong cộng đồng nếu những bà mẹ bị nhiễm HIV đều nuôi con
bằng sữa mẹ ước tính có khoảng 4% trẻ sơ sinh bị lây nhiễm. ở Việt Nam, tỷ lệ
lây nhiễm HIV từ mẹ sang con có thấp hơn nhưng có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây. Nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Thai nhi sống phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ, khi ra đời trẻ phải thích
nghi với cuộc sống bên ngoài nhưng cơ thể còn rất yếu, chức năng các bộ phận
chưa hoàn chỉnh. Do đó trẻ dễ mắc bệnh nếu không được chăm sóc và nuôi dưỡng
cẩn thận, tỷ mỉ, sạch sẽ. Ăn bổ sung hợp lý cho trẻ từ 7 - 12 tháng tuổi Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất
đối với trẻ, nhưng đến một tháng tuổi nhất định (sau 6 tháng tuổi), vì sữa mẹ
không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng lớn lên của trẻ nên trẻ cần
được ăn bổ sung. Để trẻ phát triển tốt, khoẻ mạnh và thông minh cần cho trẻ ăn
bổ sung hợp lý. Nhu cầu nước và các chất điện giải khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần
thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng
acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình
trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra
mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và
khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính. Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến Nghị Chỉ cần một lượng rất nhỏ các vi chất dinh dưỡng là có thể đáp ứng được nhu cầu cho cơ thể người ta hàng ngày, nhưng các vi chất dinh dưỡng lại có vai trò rất thiết yếu trong việc duy trì và nâng cao tình trạng dinh dưỡng cũng như nâng cao sức khoẻ. Trong hơn 10 năm qua, người ta đã có thêm các hiểu biết về vai trò của các vi chất dinh dưỡng trong cơ thể, về nguồn thực phẩm, về nhu cầu khuyến nghị và giới hạn tiêu thụ tối đa.
Đảm bảo nhu cầu các chất Glucid, chất xơ và đường
Ăn uống đảm bảo nhu cầu Lipid Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất
(1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3Kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1
Kcal/1gam và glucid 4,1Kcal/1gam). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo, đồng
thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A,
D, E và K). Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong dầu mỡ này phụ
thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể. Bài đã đăng: Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) trong tiếng Anh là Recommended Dietary Allowances (RDAs) (WHO/SEA-RDA, 2005) theo y văn và dinh dưỡng học quốc tế được định nghĩa là:
Mức tiêu thụ năng lượng và các chất dinh dưỡng được coi là đầy đủ để duy trì sức khoẻ và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư. Bạn muốn nâng cao hệ miễn dịch của mình
|