Trang chủ
Giới thiệu
Nghiên cứu -Dự án
Đào tạo
Phòng khám đa khoa
Tư vấn sức khỏe
Dinh dưỡng
Liên hệ
Webmail
   Dinh dưỡng trẻ em         Khám & tư vấn dinh dưỡng         Thông tin dinh dưỡng     
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng trẻ em
Khám & tư vấn dinh dưỡng
Thông tin dinh dưỡng

Nhu cầu nước và các chất điện giải khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em

   
09:18' AM - Thứ tư, 17/11/2010

Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính.

1. Nhu cầu nước đối với cơ thể

Nước chiếm tới 74% trọng lượng cơ thể của trẻ mới sinh, 55-60% trọng lượng cơ thể người trưởng thành nam và 50% trọng lượng cơ thể người trưởng thành nữ. Muốn bảo đảm tiêu hóa, hấp thụ và sử dụng tốt lương thực, thực phẩm cơ thể cần phải có nước dưới dạng đồ uống hoặc ăn vào cùng với các loại thức ăn.

Bảng 33. Lượng nước uống/ăn vào và thải ra hàng ngày
của người trưởng thành

Uống / ăn vào

Đường vào

ml / ngày

Đường ra

ml / ngày

Theo đường miệng

1.100-1.400

Qua nước tiểu

1.200-1.500

Theo các thực phẩm

800-1.000

Theo đường ruột

100-200

Theo hơi thở

400

Theo mồ hôi

500-600

Nước chuyển hoá (oxy hoá thực phẩm)

300

Tổng cộng

2.200-2.700 (Xấp xỉ 2.500 ml/ngày)

2.200-2.700 (xấp xỉ 2.500 ml/ngày)

1.1. Nhu cầu nước khuyến nghị đối với trẻ em

Có nhiều lý do khiến nhu cầu nước ở trẻ em cần được xác định riêng rẽ (FNB, 1989), gồm:

- Diện tích da/kg thể trọng lớn hơn nhiều so với người trưởng thành.

- Tỷ trọng nước và dịch tế bào trong cơ thể lớn hơn, tỷ lệ thẩm thấu lớn hơn.

- Khả năng làm việc của thận chưa hoàn chỉnh.

- Không biết kêu khát hoặc đòi uống nên không được cho uống nước/bồi phụ nước.

Vì những lý do trên, nhu cầu nước của trẻ em được xác định là 150 ml/1kg cân nặng/ngày.

1.2. Nhu cầu nước khuyến nghị cho các lứa tuổi lớn hơn

Nhu cầu nước cho các lứa tuổi lớn hơn được tính toán theo cân nặng, hoạt động thể lực và theo năng lượng tiêu hao như sau:

1.2.1. Nhu cầu nước cho lứa tuổi lớn hơn theo hoạt động thể lực và cân nặng

Bảng 34. Nhu cầu nước khuyến nghị
theo cân nặng, tuổi và hoạt động thể lực

Từ 19 đến 30 tuổi, hoạt động thể lực nặng

Cách ước lượng

(Theo cân nặng, tuổi)

Nhu cầu nước/các chất dịch,

(ml/kg)

Vị thành niên

40

40

Từ 19 đến 55 tuổi

hoạt động thể lực trung bình

35

Người trưởng thành ³ 55 tuổi

30

Theo cân nặng 1-10kg

100

Trẻ em 11-20kg

1.000ml + 50ml/kg cho mỗi 10kg cân nặng tăng lên

Trẻ em 21kg trở lên

1.500ml + 20ml/kg cho mỗi 20kg cân nặng tăng lên

Người trưởng thành >50 tuổi

Thêm 15ml/kg cho mỗi 20kg cân nặng tăng lên

1.2.2. Nhu cầu nước khuyến nghị theo năng lượng, nitơ ăn vào và diện tích da:

Bảng 35. Nhu cầu nước khuyến nghị
theo năng lượng, nitơ ăn vào, tuổi, và diện tích da

Năng lượng (Kcal)

Nhu cầu nước hàng ngày (ml)

Theo năng lượng ăn vào

1 ml/1kcal cho người trưởng thành

1,5ml/kcal cho trẻ em vị thành niên

Theo nitơ + Năng lượng ăn vào

100ml/1g nitơ ăn vào + 1ml/1 kcal (*)

Theo diện tích bề mặt da

1.500ml/m2 (**)

Nguồn: Zeman & Ney (111), 1996. RENI 2002.

(*). Đặc biệt quan trọng và có lợi trong các chế độ ăn giầu protid.

(**). Công thức tính diện tích bề mặt da (ký hiệu là S):

S = W 0,425x H 0,725 x 71,84. Người trưởng thành có S trung bình = 1,73 m2.

Trong đó W là cân nặng và H là chiều cao

Những điểm cần chú ý khi áp dụng nhu cầu nước khuyến nghị:

- Trên đây là cách xác định nhu cầu nước cho người bình thường. Phương pháp này không thích hợp nên không áp dụng trong những trường hợp cơ thể bị mất nước bất thường (như tiêu chảy, ngoài uống nhiều hơn còn cần phải truyền dịch).

- Nhu cầu nước của cơ thể phụ thuộc rất lớn vào thời tiết, khí hậu (mùa hè, nóng bức nhu cầu nước tăng lên, trẻ em học sinh cần được cung cấp đủ nước cả ở nhà và ở trường).

- Nhu cầu nước của cơ thể phụ thuộc rất lớn vào điều kiện lao động (người làm việc thể lực nặng nhọc ra nhiều mồ hôi cần uống nhiều nước hơn).

- Để đề phòng thừa cân - béo phì, cần tránh lạm dụng (uống thường xuyên hoặc quá nhiều) các loại nước giải khát có ga (như cô - ca, pepsi, ...).

2. Nhu cầu khuyến nghị về các chất điện giải (electrolites)

2.1. Nhu cầu natri (Na, sodium) khuyến nghị

Natri, cùng với potassium (K) và chlorid (Cl) là các chất cần thiết phải có trong khẩu phần ăn, nhưng không giống như hầu hết các chất dinh dưỡng khác, rất hiếm khi bị thiếu natri trong khẩu phần hàng ngày. Nguy cơ là tiêu thụ quá nhiều natri.

Natri là một chất điện giải chính có vai trò điều hoà áp lực thẩm thấu và cân bằng thể dịch, cân bằng acid, điều hoà hoạt động điện sinh lý trong cơ, thần kinh và chống lại các yếu tố gây sức ép đối với hệ thống tim mạch (Wardlaw and Insel, 1993). Ngoài ra, cùng với kali và clo, natri rất cần thiết cho quá trình vận chuyển tích cực các nguyên liệu chuyển hoá qua màng tế bào như chuyển hoá glucose và trao đổi ion Na của tế bào.

Thiếu natri: rất hiếm gặp ở người khoẻ mạnh bình thường. Tình trạng hạ natri huyết (hyponatremia) chỉ có thể xảy ra ở những người bị mất quá nhiều natri do tiêu chảy, nôn, ra quá nhiều mồ hôi, hoặc bị bệnh thận.

Đã có bằng chứng cho thấy tiêu thụ nhiều muối lúc còn trẻ có liên quan tới bệnh tăng huyết áp về sau (Mitchell, 1989).

Nhu cầu tối thiểu chất điện giải cho trẻ em và phụ nữ được ghi trong bảng 36.

Bảng 36. Khuyến nghị mức tiêu thụ tối thiểu chất điện giải
cho trẻ em và phụ nữ

Tuổi

Sodium (*) (Na) mg/ngày

Chloride (Cl) mg/ngày

Potassium (K) mg/ngày

Trẻ em (tháng)

< 6

1.200

1.800

500

6-11

2.000

3.000

700

Trẻ nhỏ và nữ vị thành niên

(tuổi)

1

2.250

3.500

1.000

2-5

3.000

5.000

1.400

6-9

4.000

6.000

1.600

10-18

5.000

7.500

2.000

Nữ giới trưởng thành (tuổi)

³ 19

5.000

7.500

2.000

(*) Theo US RDA Committee 1989. Nhu cầu tối thiểu về Na (cùng với nhu cầu tối thiểu về nước, K và Cl).

Natri có thể có sẵn từ thực phẩm và đồ uống, từ chế biến thức ăn và từ ăn thêm trong bữa ăn (40% Na cùng với 60% Cl, theo Guthrie, Picciano, 1995; Wardlaw, 1993). Ngược lại với hầu hết các chất khoáng, natri có trong thức ăn nguồn động vật nhiều hơn thức ăn nguồn thực vật (Guthrie, Picciano, 1995). Do rất khó xác định lượng natri ăn vào bằng phương pháp nhớ lại, điều tra khẩu phần có thể thường cho kết quả thấp hơn so với thực tế tiêu thụ natri thực tế (FNB, 1989).

2.2. Nhu cầu kali (K, potassium) khuyến nghị

Cùng với natri và clo, kali rất cần thiết trong khẩu phần hàng ngày. Kali là cation chính trong dịch tế bào đóng vai trò cân bằng điện giải, cân bằng acid và rất quan trọng đối với hoạt động hệ thống liên kết và cơ tim. Cùng với magiê, kali hoạt động như là nhân tố giãn cơ, ngược với calci (kích thích cơ). Kali có vai trò góp phần vận chuyển các xung động thần kinh và duy trì huyết áp bình thường.

Trong tế bào, kali có vai trò đặc hiệu trong các phản ứng enzym như tổng hợp protein và glycogen, có vai trò chuyển glucose dư thừa thành glycogen dự trữ và dự trữ nitơ trong protein cơ.

Nhiều nghiên cứu cho rằng khẩu phần có kali cao và natri thấp thường hay dẫn tới huyết áp thấp. Tỷ số tiêu thụ thích hợp nhất giữa Na và K là từ 0,25-5,0.

Thiếu kali thường ít gặp, có chăng là trong những trường hợp mất kali quá nhiều qua đường tiêu hoá như khi nôn nhiều, mắc bệnh đường tiêu hoá mạn tính, dùng các yếu tố diuretic để điều trị tăng huyết áp hoặc ở người có bệnh mạn tính và rối loạn chuyển hoá. Thiếu kali nặng gây rối loạn nhịp tim và có thể dẫn đến tử vong. Nếu chức năng thận bình thường tiêu thụ quá nhiều kali cũng không gây ngộ độc, nhưng khi thận yếu, sẽ gây tăng kali máu (Hyperkalemia) và làm chậm nhịp tim, nặng có thể dẫn tới tim ngừng đập.

Nhu cầu Ka li cùng với Na và Cl khuyến nghị áp dụng như trong bảng 36.

Kali có ở rất nhiều loại thực phẩm, cao nhất trong thực phẩm tươi sống, như thịt tươi các loại, hoa quả và rau.

2.3. Nhu cầu Clo (Cl, Chloride) khuyến nghị

Clo được phân bố rộng rãi trong cơ thể dưới dạng ion chlorid. Khác với ion dương Na và K, Cl ở dạng ion âm. Hàm lượng clo cao nhất ở dịch não tuỷ, và chất tiết dạ dày, thấp hơn ở các tổ chức cơ và thần kinh. Cùng với Na và K, ion Cl giúp duy trì cân bằng nước và điều áp lực nội môi và cân bằng acid. Clo có vai trò đặc biệt duy trì pH máu và tham gia vào thành phần dịch vị (HCL).

Thiếu clo thường gặp ở người mất clo quá nhiều khi nôn, ra mồ hôi nhiều kéo dài liên tục, bệnh viêm đường tiêu hoá mạn tính, hoặc suy thận. Chỉ gặp hàm lượng clo máu cao trong các trường hợp cơ thể mất nước, thiếu nước. Khẩu phần ăn vào thường thừa clo do muối ăn và nước chấm cung cấp nhưng với người khỏe mạnh clo đều được đào thải qua thận. Một số loại rau cũng là nguồn clo nhưng không nhiều.

Nhu cầu clo cùng với natri và kali được khuyến nghị áp dụng như trong bảng 36.

Số lượt đọc:  332  -  Cập nhật lần cuối:  18/11/2010 12:48:57 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng: