Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần
thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng
acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình
trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra
mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và
khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính.
1. Nhu cầu nước đối với cơ thể
Nước chiếm tới 74% trọng lượng cơ thể của trẻ mới sinh, 55-60% trọng lượng
cơ thể người trưởng thành nam và 50% trọng lượng cơ thể người trưởng thành nữ.
Muốn bảo đảm tiêu hóa, hấp thụ và sử dụng tốt lương thực, thực phẩm cơ thể cần
phải có nước dưới dạng đồ uống hoặc ăn vào cùng với các loại thức ăn.
Bảng 33. Lượng nước uống/ăn vào và thải ra hàng
ngày
của người trưởng thành
|
Uống / ăn vào
|
|
|
Đường vào
|
ml / ngày
|
Đường ra
|
ml / ngày
|
|
Theo đường miệng
|
1.100-1.400
|
Qua nước tiểu
|
1.200-1.500
|
|
Theo các thực phẩm
|
800-1.000
|
Theo đường ruột
|
100-200
|
|
|
|
Theo hơi thở
|
400
|
|
|
|
Theo mồ hôi
|
500-600
|
|
Nước chuyển hoá (oxy hoá thực phẩm)
|
300
|
|
|
|
Tổng cộng
|
2.200-2.700
(Xấp xỉ 2.500 ml/ngày)
|
|
2.200-2.700
(xấp xỉ 2.500 ml/ngày)
|
1.1. Nhu cầu nước khuyến nghị đối với trẻ em
Có nhiều lý do khiến nhu cầu nước ở trẻ em cần được xác định riêng rẽ (FNB,
1989), gồm:
-
Diện tích da/kg thể trọng lớn hơn nhiều so với người
trưởng thành.
-
Tỷ trọng nước và dịch tế bào trong cơ thể lớn hơn, tỷ lệ
thẩm thấu lớn hơn.
-
Khả năng làm việc của thận chưa hoàn chỉnh.
-
Không biết kêu khát hoặc đòi uống nên không được cho uống
nước/bồi phụ nước.
Vì những lý do trên, nhu cầu nước của trẻ em được xác định là 150 ml/1kg
cân nặng/ngày.
1.2. Nhu cầu nước khuyến nghị cho các lứa tuổi lớn hơn
Nhu cầu nước cho các lứa tuổi lớn hơn được tính toán theo cân nặng, hoạt động thể lực và theo năng lượng
tiêu hao như sau:
1.2.1. Nhu cầu nước cho lứa tuổi lớn
hơn theo hoạt động thể lực và cân nặng
Bảng 34. Nhu cầu nước khuyến nghị
theo cân nặng, tuổi và hoạt động thể lực
Từ 19 đến 30 tuổi, hoạt động thể lực nặng
|
Cách ước lượng
(Theo cân nặng, tuổi)
|
Nhu cầu nước/các chất dịch,
(ml/kg)
|
|
Vị thành niên
|
40
|
|
40
|
|
Từ 19 đến 55 tuổi
hoạt động thể lực trung bình
|
35
|
|
Người trưởng thành
³ 55 tuổi
|
30
|
|
Theo cân nặng 1-10kg
|
100
|
|
Trẻ em 11-20kg
|
1.000ml + 50ml/kg cho mỗi 10kg cân
nặng tăng lên
|
|
Trẻ em 21kg trở
lên
|
1.500ml + 20ml/kg cho mỗi 20kg cân
nặng tăng lên
|
|
Người trưởng thành >50 tuổi
|
Thêm 15ml/kg cho mỗi 20kg cân nặng
tăng lên
|
1.2.2. Nhu
cầu nước khuyến nghị theo năng lượng, nitơ ăn vào và diện
tích da:
Bảng 35. Nhu cầu nước khuyến nghị
theo năng lượng, nitơ ăn vào, tuổi, và diện tích da
|
Năng lượng (Kcal)
|
Nhu cầu nước hàng ngày (ml)
|
|
Theo năng lượng ăn vào
|
1 ml/1kcal cho người trưởng thành
|
|
1,5ml/kcal cho trẻ em vị thành niên
|
|
Theo nitơ + Năng lượng ăn vào
|
100ml/1g nitơ ăn vào + 1ml/1 kcal (*)
|
|
Theo diện tích bề mặt da
|
1.500ml/m2 (**)
|
Nguồn: Zeman & Ney
(111), 1996. RENI 2002.
(*). Đặc biệt quan trọng và có lợi trong các chế độ ăn giầu protid.
(**). Công thức tính diện tích bề mặt da (ký hiệu là S):
S = W 0,425x
H 0,725 x 71,84. Người trưởng
thành có S trung bình = 1,73 m2.
Trong đó W là cân nặng và H là chiều cao
Những điểm cần chú ý khi áp dụng nhu cầu nước khuyến nghị:
-
Trên đây là cách xác định nhu cầu nước cho người bình
thường. Phương pháp này không thích hợp nên không áp dụng trong những trường
hợp cơ thể bị mất nước bất thường (như tiêu chảy, ngoài uống nhiều hơn còn cần
phải truyền dịch).
-
Nhu cầu nước của cơ thể phụ thuộc rất lớn vào thời tiết,
khí hậu (mùa hè, nóng bức nhu cầu nước tăng lên, trẻ em học sinh cần được cung
cấp đủ nước cả ở nhà và ở trường).
-
Nhu cầu nước của cơ thể phụ thuộc rất lớn vào điều kiện
lao động (người làm việc thể lực nặng nhọc ra nhiều mồ hôi cần uống nhiều nước
hơn).
-
Để đề phòng thừa cân - béo phì, cần tránh lạm dụng (uống
thường xuyên hoặc quá nhiều) các loại nước giải khát có ga (như cô - ca, pepsi,
...).
2. Nhu cầu khuyến nghị về các chất điện giải (electrolites)
2.1. Nhu cầu natri (Na, sodium) khuyến nghị
Natri, cùng với potassium (K) và chlorid (Cl) là các chất cần thiết phải có
trong khẩu phần ăn, nhưng không giống như hầu hết các chất dinh dưỡng khác, rất
hiếm khi bị thiếu natri trong khẩu phần hàng ngày. Nguy cơ là tiêu thụ quá
nhiều natri.
Natri là một chất điện giải chính có vai trò điều hoà áp lực thẩm thấu và
cân bằng thể dịch, cân bằng acid, điều hoà hoạt động điện sinh lý trong cơ,
thần kinh và chống lại các yếu tố gây sức ép đối với hệ thống tim mạch (Wardlaw
and Insel, 1993). Ngoài ra, cùng với kali và clo, natri rất cần thiết cho quá
trình vận chuyển tích cực các nguyên liệu chuyển hoá qua màng tế bào như chuyển
hoá glucose và trao đổi ion Na của tế bào.
Thiếu natri: rất hiếm gặp ở người khoẻ mạnh bình
thường. Tình trạng hạ natri huyết (hyponatremia) chỉ có thể xảy ra ở những
người bị mất quá nhiều natri do tiêu chảy, nôn, ra quá nhiều mồ hôi, hoặc bị
bệnh thận.
Đã có bằng chứng cho thấy tiêu thụ nhiều muối lúc còn trẻ có liên quan
tới bệnh tăng huyết áp về sau (Mitchell, 1989).
Nhu cầu tối thiểu chất điện giải cho trẻ em và phụ nữ được ghi trong bảng
36.
Bảng 36. Khuyến nghị mức tiêu thụ tối thiểu chất điện giải
cho trẻ em và phụ nữ
|
Tuổi
|
Sodium (*) (Na) mg/ngày
|
Chloride (Cl) mg/ngày
|
Potassium (K) mg/ngày
|
|
Trẻ em (tháng)
|
< 6
|
1.200
|
1.800
|
500
|
|
6-11
|
2.000
|
3.000
|
700
|
|
Trẻ nhỏ và nữ vị thành niên
(tuổi)
|
1
|
2.250
|
3.500
|
1.000
|
|
2-5
|
3.000
|
5.000
|
1.400
|
|
6-9
|
4.000
|
6.000
|
1.600
|
|
10-18
|
5.000
|
7.500
|
2.000
|
|
Nữ giới trưởng thành (tuổi)
|
³ 19
|
5.000
|
7.500
|
2.000
|
(*) Theo US RDA Committee 1989. Nhu cầu
tối thiểu về Na (cùng với nhu cầu tối thiểu về nước, K và Cl).
Natri có thể có sẵn từ thực phẩm và đồ uống, từ chế biến thức ăn và từ ăn
thêm trong bữa ăn (40% Na cùng với 60% Cl, theo Guthrie, Picciano, 1995;
Wardlaw, 1993). Ngược lại với hầu hết các chất khoáng, natri có trong thức ăn
nguồn động vật nhiều hơn thức ăn nguồn thực vật (Guthrie, Picciano, 1995). Do
rất khó xác định lượng natri ăn vào bằng phương pháp nhớ lại, điều tra khẩu
phần có thể thường cho kết quả thấp hơn so với thực tế tiêu thụ natri thực tế (FNB,
1989).
2.2. Nhu cầu kali (K, potassium)
khuyến nghị
Cùng với natri và clo, kali rất cần thiết trong khẩu phần hàng ngày. Kali
là cation chính trong dịch tế bào đóng vai trò cân bằng điện giải, cân bằng
acid và rất quan trọng đối với hoạt động hệ thống liên kết và cơ tim. Cùng với
magiê, kali hoạt động như là nhân tố giãn cơ, ngược với calci (kích thích cơ).
Kali có vai trò góp phần vận chuyển các xung động thần kinh và duy trì huyết áp bình thường.
Trong tế bào, kali có vai trò đặc hiệu trong các phản ứng enzym như tổng
hợp protein và glycogen, có vai trò chuyển glucose dư thừa thành glycogen dự
trữ và dự trữ nitơ trong protein cơ.
Nhiều nghiên cứu cho rằng khẩu phần có kali cao và natri thấp thường hay
dẫn tới huyết áp thấp. Tỷ số tiêu thụ thích hợp nhất giữa Na và K là từ
0,25-5,0.
Thiếu kali thường ít gặp, có chăng là trong những trường hợp mất kali quá
nhiều qua đường tiêu hoá như khi nôn nhiều, mắc bệnh đường tiêu hoá mạn tính,
dùng các yếu tố diuretic để điều trị tăng huyết áp hoặc ở người có bệnh mạn
tính và rối loạn chuyển hoá. Thiếu kali nặng gây rối loạn nhịp tim và có thể
dẫn đến tử vong. Nếu chức năng thận bình thường tiêu thụ quá nhiều kali cũng
không gây ngộ độc, nhưng khi thận yếu, sẽ gây tăng kali máu (Hyperkalemia) và
làm chậm nhịp tim, nặng có thể dẫn tới tim ngừng đập.
Nhu cầu Ka li cùng với Na và Cl khuyến nghị áp dụng như trong bảng 36.
Kali có ở rất nhiều loại thực phẩm, cao nhất trong thực phẩm tươi sống, như
thịt tươi các loại, hoa quả và rau.
2.3. Nhu cầu Clo (Cl, Chloride)
khuyến nghị
Clo được phân bố rộng rãi trong cơ thể dưới dạng ion
chlorid. Khác với ion dương Na và K, Cl ở dạng ion âm. Hàm lượng clo cao nhất ở
dịch não tuỷ, và chất tiết dạ dày, thấp hơn ở các tổ chức cơ và thần kinh. Cùng
với Na và K, ion Cl giúp duy trì cân bằng nước và điều áp lực nội môi và cân
bằng acid. Clo có vai trò đặc biệt duy trì pH máu và tham gia vào thành phần
dịch vị (HCL).
Thiếu
clo thường gặp ở người mất clo quá nhiều khi nôn, ra mồ hôi nhiều kéo dài liên
tục, bệnh viêm đường tiêu hoá mạn tính, hoặc suy thận. Chỉ gặp hàm lượng clo
máu cao trong các trường hợp cơ thể mất nước, thiếu nước. Khẩu phần ăn vào
thường thừa clo do muối ăn và nước chấm cung cấp nhưng với người khỏe mạnh clo
đều được đào thải qua thận. Một số loại rau cũng là nguồn clo nhưng không
nhiều.
Nhu cầu clo cùng với natri và kali được khuyến nghị áp dụng như trong bảng
36.
Số lượt đọc:
332
-
Cập nhật lần cuối:
18/11/2010 12:48:57 PM |