Trang chủ
Giới thiệu
Nghiên cứu -Dự án
Đào tạo
Phòng khám đa khoa
Tư vấn sức khỏe
Dinh dưỡng
Liên hệ
Webmail
   Dinh dưỡng trẻ em         Khám & tư vấn dinh dưỡng         Thông tin dinh dưỡng     
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng trẻ em
Khám & tư vấn dinh dưỡng
Thông tin dinh dưỡng

Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam

   
04:01' PM - Thứ tư, 10/11/2010

Việt Nam đang phải đương đầu với gánh nặng kép về dinh dưỡng: một mặt ,chúng ta đã và đang cố gắng hạ thấp và tiến tới thanh toán các bệnh tật do thiếu dinh dưỡng gây ra như suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng, còi xương, khô mắt và mù lòa do thiếu vitamin A, thiếu máu do thiếu sắt, các rối loạn do thiếu iod; … mặt khác, chúng ta đang triển khai nhiều hoạt động nhằm chủ động dự phòng và xử trí các bệnh tật gây ra do thừa dinh dưỡng, hoạt động thể lực và lối sống như thừa cân - béo phì, hội chứng chuyển hóa và các bệnh mạn tính không lây liên quan tới dinh dưỡng, như đái tháo đường, tăng huyết áp, tim mạch, ung thư, ... Việc thực hiện ăn uống theo đúng nhu cầu dinh dưỡng được coi là một biện pháp then chốt để giảm bớt gánh nặng kép về dinh dưỡng, nâng cao sức khỏe cộng đồng, gia đình và cá thể.

1. Nhu cầu năng lượng cả ngày đối phụ nữ Việt Nam trưởng thành

Nhu cầu năng lượng cả ngày của phụ nữ phụ thuộc vào lứa tuổi, tình trạng sinh lý và mức độ lao động.

Căn cứ vào số liệu cân nặng thực tế của trưởng thành Việt Nam hiện nay, bằng cách tính toán như trên, NCNLKN cho phụ nữ Việt Nam theo tuổi, loại lao động (LĐ) và tình trạng sinh lý, được xác định như trong bảng 3 dưới đây.

Bảng 3. Nhu cầu năng lượng của phụ nữ Việt Nam
theo lứa tuổi, tình trạng sinh lý và mức độ lao động

Lứa tuổi/tình trạng sinh lý

NCNLKN theo loại hình LĐ (KCal/ngày)

LĐ nhẹ

LĐ vừa

LĐ nặng

Phụ nữ 19 – 30 tuổi

2.000-2.200*

2100-2.300*

2.400-2.600*

Phụ nữ 31 – 60 tuổi

2.100

2.200

2.500

Phụ nữ > 60 tuổi

1.800

1.900

2.200

Phụ nữ mang thai 3 tháng giữa

+ 360

+ 360

-

Phụ nữ mang thai 3 tháng cuối

+ 475

+ 475

-

Bà mẹ cho con bú (trước và trong khi có thai được ăn uống tốt)

+ 505

+ 505

-

Bà mẹ cho con bú (trước và trong khi có thai không được ăn uống tốt)*

+ 675

+ 675

-

* Là các mức tối thiểu và tối đa. Mỗi người có thể tự tính được nhu cầu năng lượng dựa vào cân nặng chính xác của mình.

Ví dụ:

Một công nhân nữ ở tuổi 32, có trọng lượng cơ thể là 52kg thì NCLNKN hàng ngày bình thường tính theo cách trên sẽ là: 2.200Kcal.

2. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho các phụ nữ đang mang thai và bà mẹ cho con bú

Vì cả phụ nữ đang mang thai và bà mẹ cho con bú không chỉ ăn cho bản thân mình mà còn phải ăn uống thay cho đứa con của mình nữa nên đều phải ăn nhiều hơn về số lượng và tốt/bổ hơn về chất lượng. Những người mẹ bị thiếu ăn hoặc ăn uống kiêng khem không hợp lý có nhiều nguy cơ sinh ra đứa trẻ có cân nặng thấp dưới 2500g. Ngoài ra, nếu người mẹ dinh dưỡng tốt trong thời gian nang thai, thì sẽ tích lũy được khoảng 4kg mỡ, là nguồn dự trữ để sản xuất sữa sau khi sinh.

2.1. Phụ nữ đang mang thai cần ăn uống như thế nào để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho mình và cho bào thai?

Theo khuyến nghị gần đây của FAO/WHO/UNU (2002, 2004) và tham khảo bảng nhu cầu khuyến nghị cho người Đông Nam á:

Trong 3 tháng đầu có thể ăn uống sao cho năng lượng bình thường nhưng phải chú ý ăn nhiều thức ăn động vật để cung cấp đầy đủ protein/chất đạm giúp cho bào thai phát triển
tốt nhất.

Trong 3 tháng giữa: cần ăn nhiều hơn sao cho năng lượng cung cấp tăng thêm 360Kcal/ngày và chú ý ăn đa dạng với nhiều thức ăn động vật hơn.

Trong 3 tháng cuối: cần ăn nhiều và đa dạng hơn nữa sao cho năng lượng cung cấp tăng thêm 475Kcal/ngày (xem bảng 3).

Trong ví dụ trên, khi chị nữ công nhân này có thai từ tháng thứ 4 đến tháng thứ 6, nhu cầu năng lường sẽ tăng lên và cần tới 2560Kcal/ngày và từ khi thai được 7 tháng cho đến khi
sinh, nhu cầu năng lượng sẽ cao hơn và cần cung cấp đủ 2.675Kcal/ngày từ các bữa ăn hàng ngày.

Để biết mình đã có chế độ dinh dưỡng hợp lý chưa, trước tiên, phụ nữ có thai đã đảm bảo một chế độ ăn hợp lý cần có đầy đủ 8 nhóm thức ăn hay chưa, trong đó chú trọng 4 nhóm chính (đường bột, đạm, béo, vitamin và muối khoáng), mỗi nhóm thức ăn cung cấp một hoặc nhiều thành phần cần thiết cho cơ thể. Với chế độ ăn như vậy, các dưỡng chất trong bữa ăn mới có thể đáp ứng tốt nhu cầu dinh dưỡng tăng lên trong thời kỳ sinh lý đặc biệt này.

Thứ hai, chế độ ăn hợp lý còn được thể hiện qua sự tăng cân của thai phụ. Đối với một người có cân nặng bình thường cần tăng 9-12kg trong suốt thời kỳ có thai. Trong đó: 3 tháng đầu tăng 1kg, 3 tháng giữa tăng 4-5kg và 3 tháng cuối tăng 5-6kg. Tuy nhiên, mức tăng cân còn thay đổi tùy theo tình trạng dinh dưỡng (chỉ số khối cơ thể - BMI - Body Mass Index) của phụ nữ trước khi có thai. So với người có tình trạng dinh dưỡng bình thường thì người gầy cần tăng cân nhiều hơn, người béo cần tăng ít cân hơn.

2.2. Các bà mẹ đang cho con bú cần ăn uống như thế nào để đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cả mẹ và con?

Trong thời kỳ này, nhất là trong 6 tháng đầu tiên sau khi sinh, người mẹ phải ăn nhiều, đa dạng hơn mới có đủ sữa với chất lượng tốt để nuôi con. Do đó năng lượng cần tăng thêm. Nhu cầu cụ thể tùy theo tình trạng ăn uống của các bà mẹ trước và trong thời kỳ mang thai.

Nếu là các bà mẹ mà khi chưa có thai và trong thời kỳ mang thai vốn đã được ăn uống dinh dưỡng tốt (tăng được 9-12kg) thì cũng vẫn cần ăn nhiều hơn sao cho năng lượng tăng thêm 505Kcal/ngày, đạt mức 2505Kcal/ngày đối với người lao động nhẹ hoặc 2.705Kcal/ngày đối với người lao động trung bình.

Nếu trong thời gian chưa có thai và trong thời kỳ mang thai bà mẹ không được ăn uống, có mức tăng cân ít hơn 9kg tốt thì cần phải cố gắng ăn nhiều và đa dạng hơn các loại thực phẩm khác nhau sao cho năng lượng tăng thêm 675Kcal/ngày, đạt mức 2675Kcal/ngày đối với người lao động nhẹ hoặc 2.875Kcal/ngày đối với người lao động trung bình (xem bảng 3).

Trong ví dụ về một chị nữ công nhân nói trên, khi sinh con chị cần phải thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ. Vì thế, mỗi ngày người phụ nữ này cần một khẩu phần cung cấp 2.705kcal nếu như trong thời gian mang thai chị ấy đã tăng được 9-12kg. Còn nếu trong suốt 9 tháng mang thai chị ấy có mức tăng cân ít hơn 9kg thì sau sinh, để có đủ sữa mẹ nuôi em bé chị phụ nữ này cần ăn nhiều hơn nữa sao cho có mức năng lượng cần phải là 2.875Kcal/ngày.

Cần chú ý là năng lượng chỉ được cung cấp bởi 3 nhóm chất dinh dưỡng sinh năng lượng từ bữa ăn là protein (4Kcal/1g protein), lipid (9Kcal/1g lipid) và glucid (4Kcal/1g glucid). Các nhóm chất dinh dưỡng khác (vitamin và chất khoáng) không cung cấp năng lượng cho cơ thể.

3. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị đối với những phụ nữ sống chung với HIV/AIDS

Những chị em bị HIV/AIDS có nhu cầu năng lượng rất cao. Theo WHO (2005), để duy trì cân nặng và chống suy mòn, những phụ nữ trưởng thành bị nhiễm HIV cần nhất thiết phải tăng thêm 10% tổng số năng lượng, riêng các trường hợp đã
bị bệnh AIDS cần tăng thêm 20% - 30% tổng số năng lượng khẩu phần.

Ví dụ: người phụ nữ bình thường cần 2000-2200Kcal/ngày, khi bị nhiễm HIV cần ăn uống nhiều hơn, đạt mức 2200-2400Kcal/ngày; khi đã bị bệnh AIDS cần 2400-2860Kcal/ngày. Vì thế, chị em không chỉ cần ăn thêm các loại lương thực, thực phẩm trong các bữa ăn thường ngày mà còn nên tăng thêm 2-3 bữa phụ xen vào khoảng cách giữa các bữa ăn chính tùy thuộc vào hoàn cảnh kinh tế và mức lao động của mình.

4. Áp dụng nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho trẻ em như thế nào?

Do nhu cầu phát triển nhanh và vận động nhiều nên trẻ em cần được cung cấp năng lượng rất cao. Dựa vào cân nặng theo tháng và năm tuổi có thể tính ra nhu cầu năng lượng cần thiết cho trẻ. Trong điều kiện hiện nay, nhu cầu năng lượng cho trẻ dưới 10 tuổi và trẻ em lứa tuổi vị thành niên Việt Nam được điều chỉnh dựa vào các tham khảo quốc tế và trong khu vực Đông Nam á.

Các mức khuyến nghị về nhu cầu năng lượng cho trẻ em đến 9 tuổi không phân biệt giới được ghi trong bảng 4.

Bảng 4. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho trẻ em đến 9 tuổi
không phân biệt giới

Nhóm tuổi của trẻ

Nhu cầu năng lượng (KCal)

Dưới 6 tháng (bú hoàn toàn sữa mẹ)

555 (từ sữa mẹ)

Từ 7 - 12 tháng

710

1 – 3 tuổi

1.180

4 – 6 tuổi

1.470

7 – 9 tuổi

1.825

Cho trẻ bú mẹ ngay sau khi sinh và cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu với lượng sữa là 150ml/kg thể trọng/ngày là đảm bảo đầy đủ NCDDKN. Từ tháng thứ 7 (180 ngày tuổi) cần cho trẻ ăn bổ sung hợp lý và tiếp tục cho bú tới 18-24 tháng. Trẻ từ 7-8 tháng, ngoài bú sữa mẹ trẻ cần ăn 1-2 bữa bột + nước hoa quả nghiền; từ 9-12 tháng tuổi trẻ vẫn cần được bú sữa mẹ + 3 bữa bột đặc + nước hoa quả nghiền. Sau năm đầu tiên của cuộc đời, tiêu hao năng lượng của trẻ lớn do trẻ vui chơi, đùa nghịch nhiều vì lúc này trẻ đã biết đi, biết chạy, biết tiếp xúc với môi trường xung quanh. Năng lượng cần được cung cấp đủ qua bữa ăn của trẻ gồm có:

- Chất bột: như cháo, cơm nát (đây là nguồn cung cấp năng lượng chính trong khẩu phần).

- Chất đạm, chất béo ngoài vai trò quan trọng với quá trình phát triển cơ thể cũng có vai trò cung cấp năng lượng.

Tỷ lệ giữa các chất sinh năng lượng nên cân đối ở mức tương quan giữa Đạm: Béo: Đường bột = 12-15: 25-40: 45-55 tùy theo từng độ tuổi (xem ví dụ cụ thể trong phần thứ ba).

Thức ăn của trẻ cần chế biến từ mềm đến cứng, từ ít đến nhiều để trẻ quen dần, không cần thiết phải cho mọi thức ăn vào máy xay sinh tố nghiền nát mà nên thái, băm từ rất nhỏ đến nhỏ vừa; nấu từ rất mềm đến mềm vừa rồi đến cứng để tạo cảm giác ngon miệng và giúp răng lợi, cơ nhai, cơ tiêu hóa phát triển.

Lưu ý khi trẻ bước sang tuổi tiểu học nên giảm nguồn năng lượng do chất béo cung cấp từ 30-35% ở thời kỳ mầm non xuống còn 25%-30% tổng năng lượng cả ngày để phòng chống thừa cân- béo phì.

Trẻ vị thành niên (10-18 tuổi) phát triển rất nhanh, đặc biệt là các trẻ em gái. Nhu cầu năng lượng và chất đạm rất cần thiết phải được đáp ứng để trẻ lớn và phát triển bình thường, các em có nhu cầu được nuôi dưỡng tốt để phát triển trong hiện tại và cũng là để chuẩn bị cho giai đoạn kết hôn, làm mẹ. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị cho trẻ vị thành niên được ghi trong bảng 5.

Bảng 5. Nhu cầu năng lượng khuyến nghị
cho trẻ em lứa tuổi vị thành niên (từ 10 - 18 tuổi) theo giới và tuổi

Giới

Nhóm tuổi

Nhu cầu năng lượng (KCal)

Trẻ gái vị thành niên

10 - 12

2.010

13 - 15

2.200

16 - 18

2.240

Trẻ trai vị thành niên

10 - 12

2.110

13 - 15

2.650

16 - 18

2.980

Đối với những trẻ em có dấu hiệu bị nhiễm HIV, theo WHO (2005), để chống sút cân và suy mòn, nhu cầu năng lượng phải được tăng thêm 10% so với những trẻ khoẻ mạnh có cùng cân nặng. Các trường hợp trẻ nhiễm HIV đã bị sút cân/suy mòn rồi, thì nhu cầu năng lượng cần tăng thêm 50% và thậm chí có thể lên tới 100%.

PGS. TS. Phạm Văn Hoan

Số lượt đọc:  431  -  Cập nhật lần cuối:  12/11/2010 04:54:37 PM
Bài mới:  
Bài đã đăng: