1. Nhu cầu glucid khuyến nghị (hay chất bột đường/carbohydrates)
Glucidhay carbohydrates là tên khoa học nhưng chúng thường được gọi là chung các chất bột đường, gồm các loại lương thực (staple foods) như gạo, ngô, mì…, các loại đường (sugars) và chất xơ (fiber). Đây là các thức ăn cơ bản.

Do chiếm khối lượng lớn nhất trong các bữa ăn hàng ngày nên glucid là nguồn cung cấp nhiều năng lượng nhất cho cơ thể (vì 1 gam glucid cung cấp được 4,1 Kcal), trong đó lương thực là nguồn cung cấp năng lượng chính. Glucid phức hợp (các loại đường đa phân tử - Oligosaccharid) có tác dụng làm giảm năng lượng và tăng thời gian hấp thu đường so với các loại đường đơn hoặc đường đôi. Do đó, các loại đường đa phân tử không làm tăng gánh nặng sản xuất insulin của tuyến tụy, có tác dụng làm bình ổn hệ vi khuẩn chí đường ruột và phòng chống bệnh sâu răng. Loại đường này có nhiều trong hoa quả, đậu tương, sữa, ...
Trước đây, do điều kiện kinh tế khó khăn, bữa ăn của nhân dân ta chỉ gồm chủ yếu là các thức ăn nguồn thực vật như lương thực (cung cấp khoảng 80% năng lượng tổng số) và rau. Nhưng hiện nay, cơ cấu bữa ăn đã thay đổi, tỷ trọng lương thực giảm trong khi các thức ăn nguồn động vật và hoa quả đang tăng dần. Nhu cầu năng lượng glucid trong các nước khu vực cũng hạ thấp dần (ví dụ Philippines 2002 vào khoảng 55-70% năng lượng tổng số, trong đó chủ yếu là các glucid phức hợp).
Vì vậy, theo Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế, hiện nay chúng ta có thể tham khảo khu vực (SEA-RDAs, 2005) về nhu cầu glucid khuyến nghị cho người Việt Nam là:
Giảm bớt năng lượng do các chất glucid cung cấp trong bữa ăn hàng ngày xuống còn khoảng 61-70% năng lượng tổng số, trong đó, phấn đấu tăng các glucid phức hợp lên 70 %.
2. Nhu cầu các chất xơ khuyến nghị
Tuy hầu hết các chất xơ (fibers) không có giá trị dinh dưỡng, nhưng lại được coi là thực phẩm chức năng. Chất xơ có tác dụng nhuận tràng, kích thích khả năng hoạt động của ruột già, tăng khả năng tiêu hóa đồng thời cũng là tác nhân tham gia thải loại các sản phẩm oxi hóa, các chất độc hại trong thực phẩm ra khỏi cơ thể, giảm được nguy cơ về các bệnh ung thư đại tràng, ruột kết. Tại ruột già, một số chất xơ được lên men tạo ra các acid béo mạch ngắn, được hấp thu cũng góp phần cung cấp một ít năng lượng. Chất xơ còn hấp thụ một số chất có hại cho sức khoẻ. Ngoài ra chất xơ còn có tác dụng làm giảm lượng cholesterol trong máu, giảm các bệnh tim mạch, điều hòa glucose huyết và làm giảm đậm độ năng lượng trong khẩu phần ăn. Vì vậy chất xơ được áp dụng để xử trí bệnh thừa cân - béo phì, các bệnh tim mạch.
Chất xơ có nhiều trong rau, hoa quả, ngũ cốc (nhất là các hạt toàn phần) và khoai củ. Các loại thực phẩm đã tinh chế như bột mì, bột gạo... lượng chất xơ bị giảm đáng kể, nên chỉ có rất ít chất xơ.
Hiện nay, theo IOM-FNB (Mỹ) và FAO cần có 14g chất xơ cho mỗi 1000Kcal của khẩu phần. Ví dụ, với năng lượng 2000Kcal trong khẩu phần ăn hang ngày cần có tối đa khoảng 28g chất xơ. Đối với mọi cá thể từ 2 tuổi trở lên có thể đảm bảo được nhu cầu này bằng cách mỗi ngày nên ăn 2 lần các loại quả, ăn 3 hoặc hơn 3 lần các loại rau, và ăn 6 lần hoặc hơn các sản phẩm dạng hạt toàn phần như gạo, ngô, đậu… (theo DAHHS Mỹ (1994), IOM (2002) và Ludwig (2000). Số lượng trong mỗi lần ăn vào cần phù hợp với lứa tuổi và khả năng có được các thực phẩm này. Bảng nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị của Nhật Bản, cũng đưa ra mức nhu cầu từ 20-25 gam chất xơ/người/ngày.
Tuy nhiên, đối với người Việt Nam, do điều kiện cụ thể về sinh lý, thể lực, tập quán ăn uống và nhu cầu các chất dinh dưỡng khác, chúng tôi đưa ra khuyến nghị nhu cầu chất xơ tối thiểu cho một phụ nữ trưởng thành nên là từ 18 đến 20 gam/ngày.
3. Các chất đường ngọt đã tinh chế (sugars)
Nhiều nước trong khu vực đều đã áp dụng khuyến nghị của các tác giả Mỹ (Bruce and Asp, 1994) đối với các chất đường ngọt đã tinh chế (sugars). Việt Nam chúng ta có thể áp dụng nhu cầu khuyến nghị này, nghĩa là: chỉ nên tiêu thụ rất hạn chế các chất đường ngọt đã tinh chế sao cho không chiếm quá 10% nhu cầu năng lượng do glucid cung cấp là hợp lý.
Số lượt đọc:
456
-
Cập nhật lần cuối:
15/11/2010 03:16:51 PM | Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV Hiện nay theo ước tính của WHO/UNICEF thì phụ nữ có thai bị nhiễm HIV
(Human - Immunodeficiency Virus: virus gây suy giảm miễn dịch ở người) có nguy
cơ lây truyền sang con là 30%. Lây truyền qua các giai đoạn: 5% lây truyền
trong thời gian mang thai; 10% trong quá trình sinh đẻ và 15% nuôi con bằng sữa
mẹ (NCBSM) sau sinh. Trong cộng đồng nếu những bà mẹ bị nhiễm HIV đều nuôi con
bằng sữa mẹ ước tính có khoảng 4% trẻ sơ sinh bị lây nhiễm. ở Việt Nam, tỷ lệ
lây nhiễm HIV từ mẹ sang con có thấp hơn nhưng có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây. Nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Thai nhi sống phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ, khi ra đời trẻ phải thích
nghi với cuộc sống bên ngoài nhưng cơ thể còn rất yếu, chức năng các bộ phận
chưa hoàn chỉnh. Do đó trẻ dễ mắc bệnh nếu không được chăm sóc và nuôi dưỡng
cẩn thận, tỷ mỉ, sạch sẽ. Ăn bổ sung hợp lý cho trẻ từ 7 - 12 tháng tuổi Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất
đối với trẻ, nhưng đến một tháng tuổi nhất định (sau 6 tháng tuổi), vì sữa mẹ
không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng lớn lên của trẻ nên trẻ cần
được ăn bổ sung. Để trẻ phát triển tốt, khoẻ mạnh và thông minh cần cho trẻ ăn
bổ sung hợp lý. Nhu cầu nước và các chất điện giải khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần
thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng
acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình
trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra
mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và
khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính. Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến Nghị Chỉ cần một lượng rất nhỏ các vi chất dinh dưỡng là có thể đáp ứng được nhu cầu cho cơ thể người ta hàng ngày, nhưng các vi chất dinh dưỡng lại có vai trò rất thiết yếu trong việc duy trì và nâng cao tình trạng dinh dưỡng cũng như nâng cao sức khoẻ. Trong hơn 10 năm qua, người ta đã có thêm các hiểu biết về vai trò của các vi chất dinh dưỡng trong cơ thể, về nguồn thực phẩm, về nhu cầu khuyến nghị và giới hạn tiêu thụ tối đa.
Bài đã đăng: Ăn uống đảm bảo nhu cầu Lipid Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất
(1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3Kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1
Kcal/1gam và glucid 4,1Kcal/1gam). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo, đồng
thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A,
D, E và K). Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong dầu mỡ này phụ
thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể. Nhu cầu protein khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Protein và các acid amin đã được xác định là những chất dinh dưỡng quan trọng số một hay được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng khi được hấp thu vào cơ thể dưới dạng các acid amin, protein có các vai trò hết sức quan trọng Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) trong tiếng Anh là Recommended Dietary Allowances (RDAs) (WHO/SEA-RDA, 2005) theo y văn và dinh dưỡng học quốc tế được định nghĩa là:
Mức tiêu thụ năng lượng và các chất dinh dưỡng được coi là đầy đủ để duy trì sức khoẻ và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư. Bạn muốn nâng cao hệ miễn dịch của mình
|