Từ lâu, khoa học đã chứng minh rằng lipid là nguồn năng lượng cao nhất
(1gam lipid vào cơ thể cung cấp 9,3Kcal, cao gấp hơn 2 lần so với protein 4,1
Kcal/1gam và glucid 4,1Kcal/1gam). Lipid là nguồn cung cấp các acid béo, đồng
thời là chất vận chuyển (carrier) các vitamin tan trong dầu mỡ (như vitamin A,
D, E và K). Giá trị sinh học của các vi chất dinh dưỡng tan trong dầu mỡ này phụ
thuộc vào khả năng hấp thu lipid của cơ thể.
Khi tiêu thụ quá ít lipid sẽ ảnh hưởng đến chức phận của nhiều cơ quan tổ
chức trong cơ thể, đặc biệt là não bộ
và thần kinh ở trẻ nhỏ và trẻ em. Hậu quả là trẻ sẽ bị chậm tăng trưởng
và suy dinh dưỡng do thiếu protein năng lượng.
Ngược lại, tiêu thụ quá nhiều lipid có thể dẫn đến bệnh thừa cân - béo phì,
mà tình trạng này có mối quan hệ rất khăng khít với các bệnh mạn tính không lây
và hội chứng rối loạn chuyển hoá lipid; xử trí thừa cân - béo phì và các bệnh
này là hết sức khó khăn, vất vả.
Tất cả các thực phẩm nguồn gốc động vật, thực vật và cá đều chứa nhiều loại
lipid khác nhau với chất lượng khác nhau. Do đó, để đảm bảo nhu cầu lipid đối
với cơ thể cả về số lượng và chất lượng, cần thiết phải tiêu thụ một cách đa
dạng và cân bằng các loại thực phẩm.
Trong thập kỷ 90 của thế kỷ 20, do thu nhập kinh tế của nhân dân ta còn
thấp, nhu cầu năng lượng từ lipid khuyến nghị đối với người phụ nữ Việt Nam
trưởng thành chỉ đặt ra ở mức 18-20%, tối thiểu cần 15% tổng số năng lượng của
khẩu phần. Nhưng trong những năm gần đây, do mức kinh tế các hộ gia đình đã và
đang từng bước được cải thiện, tỷ lệ năng lượng lipid trong bữa ăn đang tăng
nhanh trong những năm qua. Các kết quả nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng quốc gia cho
thấy, mức tiêu thụ lipid trên thực tế tối đa là 18% và xu hướng tiêu thụ của
nhân dân ta đang tiếp tục tăng lên. Vì vậy, nhu cầu lipid có thể điều chỉnh cao
lên nhưng phải chú ý đến chất lượng của lipid ăn vào, một mặt, để giúp cơ thể
tăng cường hấp thu các loại vitamin tan trong dầu mỡ (vitamin A, D, E, K), mặt
khác, để chủ động đề phòng thừa cân - béo phì.
1. Nhu cầu lipid khuyến nghị đối với phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ, phụ nữ có thai và
bà mẹ cho con bú
Theo WHO, FAO (1993), trên cơ sở khuyến cáo của FAO/WHO/UNU (1985), đồng
thời căn cứ vào truyền thống và xu hướng tiêu thụ lipid thực tế của người Việt
Nam, nhu cầu lipid của bà mẹ và trẻ em hiện nay có thể điều chỉnh ở mức thích
hợp hơn so với khuyến nghị từ thế kỷ trước.
Trong điều kiện hiện nay, Viện Dinh dưỡng Bộ Y tế, đã khuyến nghị mức tiêu
thụ lipid cho người trưởng thành chung cho cả nữ và nam sao cho trong khẩu phần
năng lượng lipid đạt được từ 18-25%, không nên vượt quá giới hạn 25% năng lượng
tổng số.
Nhu cầu lipid đối với phụ nữ trong lứa tuổi sinh
đẻ cao hơn hẳn so với nam giới, năng lượng do lipid cung cấp trong khẩu phần
cần đạt mức tối thiểu 20%. Tuy nhiên, cần phải luôn ghi nhớ rằng trong bữa ăn hàng ngày tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số đối với phụ nữ trưởng thành hiện nay không nên vượt quá 60%.
Riêng phụ nữ có thai và bà mẹ đang cho con bú cần năng lượng lipid ở mức
20-25%, tối đa có thể tăng lên tới 30% năng lượng của khẩu phần.
Tổng hợp nhu cầu lipid đã điều chỉnh cho phụ nữ theo nhóm tuổi và tình
trạng sinh lý hiện nay được ghi trong bảng 11.
Bảng 11. Tổng hợp nhu cầu lipid khuyến nghị
theo tuổi và tình trạng sinh lý
|
Nhóm tuổi/
Tình trạng sinh lý
|
Nhu cầu năng lượng do lipid cung cấp
hàng ngày so với năng lượng tổng số (%)
|
Tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số tối đa (%)
|
|
Mức dao động cho phép (%)
|
Giới hạn tối đa (%)
|
|
Phụ nữ trưởng thành nói chung
|
18-25
|
25
|
50
|
|
Phụ nữ trong lứa tuổi sinh đẻ (15-49)
|
20-25
|
30
|
60
|
|
Phụ nữ có thai và cho con bú
|
20-25
|
30
|
60
|
2. Áp dụng nhu cầu lipid khuyến nghị đối với trẻ em
ở trẻ đang bú mẹ, vì 50-60% năng lượng ăn vào là do
chất béo của sữa mẹ cung cấp, nên khi trẻ bắt đầu ăn bổ sung, nhất là khi trẻ
cai sữa cần hết sức chú ý ngăn ngừa tình trạng giảm lượng chất béo đột ngột do
được bú mẹ ít hơn hoặc không còn được bú sữa mẹ nữa.
Do đó, nhu
cầu khuyến nghị về lipid cho trẻ em rất cao. Theo FAO/WHO (1994), tham
khảo nhu cầu của Nhật Bản (63), Mỹ (70, 77, 89) và khu vực (53-55, 67), chúng
ta có thể khuyến nghị các mức khuyến nghị sau:
-
Đối với tất cả trẻ dưới 6 tháng tuổi, năng lượng do lipid
cung cấp là 45-50% năng lượng tổng số;
-
Đối với trẻ 6-11 tháng năng lượng do lipid cung cấp là
40%;
-
Đối với trẻ 1-3 tuổi năng lượng do lipid cung cấp là
35-40%.
Cũng xuất phát từ quan điểm trên, các tác giả Mỹ khuyến cáo rằng trong bất
kể một loại thức ăn thay thế sữa mẹ (Fomulas) nào (trong trường hợp cần thiết
phải sử dụng cho trẻ) cũng phải đảm bảo 40%
năng lượng từ lipid, tối đa có thể tới 57%. 
Như vậy lipid (dầu/ mỡ) vừa cung cấp năng lượng cao, làm tăng cảm giác ngon
miệng lại giúp trẻ hấp thu và sử dụng tốt các vitamin tan trong chất béo như
vitamin A, vitamin D, vitamin E, vitamin K... rất cần cho trẻ. Mỗi bát bột, bát
cháo, ngoài các thành phần khác (gạo, thịt, rau...) cần cho thêm 1-2 thìa cà
phê mỡ hoặc dầu. Mỡ lợn, mỡ gà rất tốt cho trẻ vì trong thành phần các loại mỡ
đó có các acid béo không no cần thiết như: acid lioleic, acid liolemc, acid
arachidonic rất cần thiết cho quá trình phát triển của trẻ. Nếu trẻ đã ăn cơm thì nên cho mỡ hoặc dầu vào xào,
rán, kho với thức ăn để trẻ ăn được.
Tuy nhiên, cần lưu ý về cơ cấu lipid trong khẩu phần trẻ em: do cơ thể trẻ
đang phát triển nhanh, trẻ rất cần acid arachidonic, là một loại acid béo không
no có nhiều trong mỡ động vật, do đó tỷ lệ cân đối giữa lipid động vật và lipid thực vật
được khuyến nghị là 70% và 30%. Ngay cả khi thức ăn bổ sung của
trẻ thường được cho thêm thịt, cá, trứng, vốn đã có một lượng nhất định lipid
động vật rồi nhưng vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu về lipid cho lứa tuổi này, vì
thế vẫn cần phải cho thêm vào khẩu phần của trẻ hoặc là các loại dầu ăn hoặc là
mỡ theo tỷ lệ một bữa dầu, một bữa mỡ.
Bảng 12. Nhu cầu năng lượng do lipid cung cấp (%)
và tỷ lệ lipid động vật/lipid thực vật (%) theo nhóm tuổi
|
Nhóm tuổi
|
Nhu cầu năng lượng do lipid cung cấp
hàng ngày so với năng lượng tổng số (%)
|
Tỷ lệ lipid động vật/lipid tổng số tối đa
|
|
Mức dao động cho phép
|
Giới hạn tối đa
|
|
Trẻ em dưới 6 tháng*
|
45-50
|
60
|
70
|
|
Trẻ từ 6-11 tháng*
|
40
|
60
|
|
Trẻ từ 1-3 tuổi*
|
35-40
|
50
|
|
Trẻ em từ 4 đến 18 tuổi*
|
20-25
|
30
|
50
|
* Không phân biệt trai gái.
3. Nhu cầu khuyến nghị các acid béo
Theo WHO/FAO và các nước khu vực, các
acid béo no trong khẩu phần phụ nữ trưởng thành không được vượt quá 10%
năng lượng khẩu phần. Để làm được điều này, chị em cần tăng cường sử dụng các
loại dầu ăn nguồn thực vật và hạn chế tiêu thụ các loại mỡ động vật như mỡ các
loại gia súc gia cầm
Các acid béo không
no (như acid linoleic, linolenic, decosahexaenoic và các acid béo không
no khác) phải đảm bảo cung cấp từ 4-10% năng lượng. Để đạt được điều này, cần
tăng cường tiêu thụ các loại dầu thực vật và mỡ cá.
Tuy hiện tại chưa có khuyến nghị thống nhất về nhu cầu các acid béo cần
thiết, nhưng theo Viện Dinh dưỡng - Bộ Y tế thì có thể tham khảo quốc tế ở mức
tiêu thụ tối thiểu ghi trong bảng 13.
Bảng 13. Nhu cầu khuyến nghị một số acid béo
không no
|
Nhóm tuổi/Tình trạng sinh lý
|
Tỷ lệ (%) trong tổng số năng lượng khẩu phần
|
|
Acid Linoleic
|
Acid Alpha-Linolenic
|
|
Trẻ dưới 12 tháng tuổi*
|
4,5
|
0,5
|
|
Trẻ em từ 1-3 tuổi*
|
3,0
|
0,5
|
|
|
|
|
|
Trẻ em từ 4 tuổi
đến 18 tuổi*
|
2,0
|
0,5
|
|
Phụ nữ trưởng thành
|
2,0
|
0,5
|
|
Phụ nữ có thai, bà mẹ cho con bú
|
2,0
|
0,5
|
* ở các lứa tuổi này không phân biệt giới.
PGS. TS. Phạm Văn Hoan
Số lượt đọc:
369
-
Cập nhật lần cuối:
15/11/2010 02:26:47 PM | Nuôi dưỡng và chăm sóc trẻ có nguy cơ cao bị nhiễm HIV Hiện nay theo ước tính của WHO/UNICEF thì phụ nữ có thai bị nhiễm HIV
(Human - Immunodeficiency Virus: virus gây suy giảm miễn dịch ở người) có nguy
cơ lây truyền sang con là 30%. Lây truyền qua các giai đoạn: 5% lây truyền
trong thời gian mang thai; 10% trong quá trình sinh đẻ và 15% nuôi con bằng sữa
mẹ (NCBSM) sau sinh. Trong cộng đồng nếu những bà mẹ bị nhiễm HIV đều nuôi con
bằng sữa mẹ ước tính có khoảng 4% trẻ sơ sinh bị lây nhiễm. ở Việt Nam, tỷ lệ
lây nhiễm HIV từ mẹ sang con có thấp hơn nhưng có xu hướng tăng nhanh trong
những năm gần đây. Nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ sơ sinh và trẻ có cân nặng sơ sinh thấp Thai nhi sống phụ thuộc hoàn toàn vào người mẹ, khi ra đời trẻ phải thích
nghi với cuộc sống bên ngoài nhưng cơ thể còn rất yếu, chức năng các bộ phận
chưa hoàn chỉnh. Do đó trẻ dễ mắc bệnh nếu không được chăm sóc và nuôi dưỡng
cẩn thận, tỷ mỉ, sạch sẽ. Ăn bổ sung hợp lý cho trẻ từ 7 - 12 tháng tuổi Sữa mẹ là thức ăn đầu tiên và tốt nhất
đối với trẻ, nhưng đến một tháng tuổi nhất định (sau 6 tháng tuổi), vì sữa mẹ
không thể đáp ứng đủ nhu cầu dinh dưỡng ngày càng lớn lên của trẻ nên trẻ cần
được ăn bổ sung. Để trẻ phát triển tốt, khoẻ mạnh và thông minh cần cho trẻ ăn
bổ sung hợp lý. Nhu cầu nước và các chất điện giải khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Nước cùng với ba chất điện giải chính Na, K và Cl là những thành phần cần
thiết phải được đưa vào theo thức ăn và đồ uống hàng ngày để duy trì cân bằng
acid - base và áp lực thẩm thấu của màng tế bào trong cơ thể. Nếu cơ thể bị mất nước và mất điện giải, tình
trạng ấy sẽ ảnh hưởng lớn tới sức khỏe và thậm chí cả tính mạng của chúng ta. Do trước đây chưa có điều kiện đưa ra
mức nhu cầu nước và điện giải, hiện nay chúng ta có thể tham khảo quốc tế và
khu vực để khuyến nghị nhu cầu nước cùng với ba chất điện giải chính. Nhu cầu các vi chất dinh dưỡng khuyến Nghị Chỉ cần một lượng rất nhỏ các vi chất dinh dưỡng là có thể đáp ứng được nhu cầu cho cơ thể người ta hàng ngày, nhưng các vi chất dinh dưỡng lại có vai trò rất thiết yếu trong việc duy trì và nâng cao tình trạng dinh dưỡng cũng như nâng cao sức khoẻ. Trong hơn 10 năm qua, người ta đã có thêm các hiểu biết về vai trò của các vi chất dinh dưỡng trong cơ thể, về nguồn thực phẩm, về nhu cầu khuyến nghị và giới hạn tiêu thụ tối đa.
Đảm bảo nhu cầu các chất Glucid, chất xơ và đường
Bài đã đăng: Nhu cầu protein khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Protein và các acid amin đã được xác định là những chất dinh dưỡng quan trọng số một hay được coi là yếu tố tạo nên sự sống. Khoa học dinh dưỡng đã chứng minh rằng khi được hấp thu vào cơ thể dưới dạng các acid amin, protein có các vai trò hết sức quan trọng Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị cho bà mẹ và trẻ em Việt Nam Nhu cầu dinh dưỡng khuyến nghị (NCDDKN) trong tiếng Anh là Recommended Dietary Allowances (RDAs) (WHO/SEA-RDA, 2005) theo y văn và dinh dưỡng học quốc tế được định nghĩa là:
Mức tiêu thụ năng lượng và các chất dinh dưỡng được coi là đầy đủ để duy trì sức khoẻ và sự sống của mọi cá thể bình thường trong một quần thể dân cư. Bạn muốn nâng cao hệ miễn dịch của mình
|