Trang chủ
Giới thiệu
Nghiên cứu -Dự án
Đào tạo
Phòng khám đa khoa
Tư vấn sức khỏe
Dinh dưỡng
Liên hệ
Webmail
   Dinh dưỡng trẻ em         Khám & tư vấn dinh dưỡng         Thông tin dinh dưỡng     
Dinh dưỡng trẻ em

Dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai

Newcare
http://newcare.com.vn
   
12:00' AM - Thứ hai, 01/01/1900

Thiếu hụt dinh dưỡng trong quá trình mang thai có thể đẩy người phụ nữ vào nguy cơ bị biến chứng sản khoa và sinh trẻ nhẹ cân. Sự thiếu hụt các vi chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn khi mang thai như là acid folic, I ốt sẽ ảnh hưởng đến bào thai sau quá trình thụ tinh. Chính vì vậy, ăn uống đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sức khoẻ của bào thai, và đứa trẻ sau này. Khi người phụ nữ mang thai có rất nhiều mối nguy hại đe dọa. Vấn đề suy dinh dưỡng lúc mang thai không thể giải quyết đơn thuần trong giai đoạn mang thai. Chính vì vậy những phụ nữ trong độ tuổi sinh để luôn phải có chế độ ăn cân bằng, hợp lý khi chuẩn bị mang thai như: ăn uống đầy đủ, bổ sung vi chất….

Việc chăm sóc dinh dưỡng cho bà mẹ trong thời gian mang thai bao gồm:

  • Đăng ký và quản lý thai nghén.
  • Tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi.
  • Đẩy mạnh việc tăng cân thích hợp trong thời gian mang thai.
  • Vấn đề dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai.
  • Vấn đề nghỉ ngơi lao động khi mang thai.
  • Vấn đề vệ sinh khi mang thai.

1.Đăng ký và quản lý thai nghén.

Với hoàn cảnh Việt Nam hiện nay mỗi thai phụ lúc có thai cho đến khi đẻ phải được khám thai ít nhất là 3 lần vào 3 thời kỳ của quá trình thai nghén. Có như vậy mới quản lý được diễn biến của cuộc đẻ, giảm bớt được các tai biến cho mẹ và con.

2.Tiêm phòng uốn ván đủ 2 mũi.

Việc tiêm phòng uốn ván là để đảm bảo cho mẹ không bị uốn ván sau khi đẻ, đảm bảo cho con không bị uốn ván sơ sinh. Phải tiêm đủ 2 mũi, mũi thứ 2 cách mũi thứ nhất 1 tháng và trước khi đẻ ít nhất 15 ngày mới có tác dụng phòng bệnh.

3. Đẩy mạnh việc tăng cân thích hợp của thai phụ trong thời kỳ mang thai

3.1. Về mặt lý thuyết

Bình thường trong 9 tháng thai nghén, người mẹ tăng khoảng 10 đến 12 kg, trong đó:

  • 3 tháng đầu tăng 1 kg
  • 3 tháng giữa tăng 4-5 kg
  • 3 tháng cuối tăng 5-6 kg

3.2. Hậu quả của vấn đề suy dinh dưỡng trong thời kỳ mang thai:

a. Hậu quả đối với sức khoẻ sản phụ:

  • Tăng nguy cơ tử vong và để lại biến chứng sản phụ.
  • Tăng nguy cơ nhiễm bệnh.
  • Thiếu máu.
  • Ốm yếu và giảm hoạt động.

b. Hậu quả đối với sức khoẻ bào thai và trẻ sơ sinh:

  • Tăng nguy cơ chết lưu, chết sơ sinh.
  • Tăng nguy cơ đẻ non, trẻ sinh ra nhẹ cân.
  • Dị tật bẩm sinh.
  • Tổn thương não.
  • Chậm phát triển trí tuệ.
  • Tăng nguy cơ nhiễm bệnh.

4. Vấn đề dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai

Người mẹ cần được cung cấp đầy đủ các chất dinh dưỡng trong thời kỳ có thai và cho con bú để đảm bảo sự phát triển của thai, rau thai, khối lượng máu trong cơ thể mẹ tăng và tăng dự trữ mỡ cho tạo sữa sau này.

4.1. Tăng thêm năng lượng (chủ yếu được cung cấp từ gạo)

Đối vối phụ nữ trong thời kỳ có thai, nhu cầu năng lượng ngày càng tăng đặc biệt là thời kỳ thai 3 tháng cuối.

Phụ nữ tuổi sinh đẻ cần 2200 Kcal.

Phụ nữ có thai 3 tháng cuối cần thêm 450 Kcal tương đương với thêm 1 bát cơm đầy và thức ăn kèm theo mỗi ngày.

Người ta thấy có mối liên quan chặt chẽ giữa năng lượng trong khẩu phần, mức tăng cân của mẹ và cân nặng trẻ sơ sinh. Vì vậy năng lượng trong khẩu phần thấp, làm cho mức tăng cân của thai phụ thấp kéo theo cân nặng sơ sinh cũng thấp. Điều đó làm cho sức khoẻ bà mẹ kém đi, trẻ dễ bị thiếu dinh dưỡng ngay từ trong bào thai.

4.2. Bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể cho trẻ.

Ngoài cơm (và lương thực khác) ăn đủ no, bữa ăn cho bà mẹ có thai cần có thức ăn để bổ sung chất đạm và chất béo giúp việc xây dựng và phát triển cơ thể của trẻ. Trước hết cần chú ý đến các nguồn chất đạm từ các thức ăn thực vật như đậu tương, đậu xanh, các loại đậu khác, vừng, lạc và các loại rau có màu xanh đậm. Đây là những thức ăn giá rẻ hơn thịt, có lượng đạm cao, lại có lượng chất béo nhiều giúp tăng năng lượng bữa ăn và giúp hấp thu tốt các nguồn vitamin tan trong dầu. Chất đạm động vật đáng chú ý là từ các loại thuỷ sản như tôm, cua, cá, ốc...và có điều kiện nên có thêm thịt, trứng, sữa...

Nhu cầu chất đạm cho phụ nữ trong thời kỳ thai 3 tháng cuối: 70g/ngày/người ( đạm có chất lượng cao ví dụ như từ thịt, cá, trứng tương đương 100g thịt lợn, 150g cá hay cua, thêm 100g/ngày/người là đủ...)

4.3. Bổ sung các chất khoáng

Các chất khoáng và vi khoáng là các chất dinh dưỡng tuy chỉ cần một lượng nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng, đặc biệt là trong giai đoạn cơ thể có nhu cầu cao về các chất dinh dưỡng cho phát triển như thời kỳ có thai.

  • Canxi: Canxi có nhiều trong tôm, cua, cá, sữa. Thay đổi nhiều loại thức ăn, bữa ăn sẽ có đủ các chất khoáng.
  • Sắt: Sắt có nhiều trong thịt, cá, trứng, các loại nhuyễn thể, trong ngũ cốc, đậu đỗ các loại và vừng lạc. Sắt do thức ăn cung cấp thường không đáp ứng được nhu cầu sắt gia tăng trong suốt quá trình mang thai. Vì lý do này, bà mẹ có thai cần được bổ sung viên sắt.
  • Kẽm: Nguồn cung cấp kẽm tốt nhất là thịt cá, hải sản. Các thức ăn thực vật cũng có kẽm nhưng hàm lượng thấp và hấp thu kém.

4.4. Bổ sung các vitamin, đặc biệt chú ý tới vitamin A, D và B1

Trong cơ thể, vitamin cần thiết cho các chức phận chuyển hoá bình thường của cơ thể trong đó nó tham gia vào xây dựng tế bào và tổ chức trong cơ thể như:

  • Vitamin A: Người phụ nữ có thai cần được đảm bảo đủ vitamin A trong suốt thời gian mang thai. Sau khi sinh, người mẹ cần đủ vitamin A để cung cấp vitamin A cho sữa nuôi con. Sữa, gan, trứng...là nguồn vitamin A động vật, dễ dàng được hấp thu và dự trữ trong cơ thể để dùng dần. Các loại rau xanh, nhất là rau ngót, rau dền, rau muống và các loại củ quả có màu vàng, màu đỏ như cà rốt, đu đủ, xoài, bí đỏ là những thức ăn có nhiều caroten còn gọi là tiền vitamin A, vào cơ thể sẽ chuyển thành vitamin A.
  • Vitamin D: Giúp cho sự hấp thu các khoáng chất như canxi, phospho vào cơ thể, khi mang thai nếu cơ thể thiếu vitamin D dễ gây các hậu quả như trẻ còi xương ngay trong bụng mẹ vì chỉ khoảng 20% lượng canxi trong thức ăn ăn vào được hấp thu.

  • Vitamin B1: Là yếu tố cần thiết để chuyển hoá gluxit. Ngũ cốc và các hạt họ đậu là những nguồn vitamin B1 tốt. Để có đủ vitamin B1 nên ăn gạo không giã trắng quá, không bị mục, mốc. Ăn nhiều đậu đỗ là cách tốt nhất bổ sung đủ vitamin B1 cho nhu cầu của cơ thể và chống được bệnh tê phù. Ngoài ra, một số các vitamin khác như vitamin C làm tăng sức đề kháng của cơ thể, hỗ trợ hấp thu sắt từ bữa ăn góp phần phòng chống thiếu máu do thiếu sắt.
  • Acid folic: Tham gia tạo máu cũng là những chất cần thiết trong quá trình phát triển của thai. Vitamin C và axid folic có nhiều trong các quả chín, rau xanh.
  • Lưu ý: Vitamin C dễ bị hao hụt nhiều trong quá trình nấu nướng.

4.5. Không nên kiêng khem quá mức

Trong thời kỳ mang thai, chế độ ăn uống rất quan trọng vì có ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của cả bà mẹ và con. Trong chế độ ăn, nói chung, người mẹ chỉ nên hạn chế cà phê, nước chè đặc, thuốc lá và giảm ăn các loại gia vị gây kích thích như ớt, hạt tiêu, dấm, tỏi; còn lại nên ăn như lúc chưa có thai. Nên tuyệt đối kiêng rượu vì chất alcohol trong rượu có thể đi qua rau thai, gây ảnh hưởng tới bào thai.

Nên ăn nhạt (bớt muối, nhất là các bà mẹ bị phù thận, để giảm phù và tránh tai biến khi đẻ. Tránh dùng tuỳ tiện và nên hạn chế đến mức thấp nhất việc sử dụng thuốc kháng sinh vì có thể gây hại cho trẻ như Tetraxyclin làm hỏng răng, Streptomyxin gây ù tai, nghễnh ngãng... Trong khi có thai và cho con bú, người mẹ cần ăn nhiều hơn bình thường. Có một số người bị nghén dễ chán ăn hay "ăn dở", chỉ ăn một vài loại thức ăn và ăn quá nhiều thức ăn chua hoặc cay...vừa có hại cho sức khoẻ vừa thiếu chất dinh dưỡng để nuôi thai.

Trong trường hợp bị nghén nhẹ như buồn nôn hoặc nôn hay sợ ăn một số thức ăn, người mẹ cố gắng thay thế sang một số thức ăn khác hoặc đồ uống khác để đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng khi có thai. Bà mẹ có thai và cho con bú, không nên kiêng khem (như kiêng ăn rau, quả, kiêng thịt, trứng hay mỡ...) bất lợi cho sức khoẻ của mẹ và giảm lượng sữa tiết ra hàng ngày.

5. Vấn đề nghỉ ngơi lao động khi mang thai

5.1. Vận động và lao động

Khi có thai nên hoạt động nhẹ nhàng và không nên làm việc quá nặng, nhất là trong những tháng cuối để tránh đẻ non. Nếu thấy tử cung hay co cứng hoặc có tiền sử sẩy thai, đẻ non hoặc cơ thể yếu mệt thì nên làm việc nhẹ.

Tập thể dục rất cần cho thai phụ vì giúp cho tinh thần được sảng khoái, tuần hoàn lưu thông, thai phụ ăn ngủ được, nhưng phải tập đúng mức, tập những động tác nhẹ nhàng, tập thở sâu, thở đều, co duỗi chân tay. Không nên chơi các môn thể thao và điền kinh nặng.

5.2. Nghỉ ngơi

Nghỉ ngơi là việc cần thiết cho thai phụ và thai nhi. Không nên nghỉ ngơi hoàn toàn, vì như vậy người mẹ sẽ không khoẻ mạnh, đẻ khó. Trong tháng cuối trước khi đẻ, bụng to nhanh, nặng, thai phụ đi lại cũng khó khăn, đồng thời tháng cuối cùng là tháng thai nhi tăng cân nhanh, tốt nhất sản phụ nên nghỉ làm việc một tháng trước khi đẻ để có lợi cho cả mẹ và con.

6. Vấn đề vệ sinh khi mang thai

Mặc: Khi có thai, khối lượng tuần hoàn và hô hấp tăng nhanh, cho nên phải mặc sao cho không ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan này. Muốn thế quần áo phải rộng rãi, thoáng mát, mùa hè mặc quần áo mỏng, mùa đông mặc quần áo đủ ấm.

Tắm rửa: Nên dùng nước ấm, không tắm lâu, không tắm ở nơi bị gió lùa, không ngâm mình trong ao hồ dễ bị nhiễm khuẩn.

Nên lưu ý sinh hoạt vợ chồng trong 3 tháng đầu phải nhẹ nhàng và thận trọng trong 3 tháng cuối của thời kỳ thai nghén vì rất dễ gây xẩy thai và đẻ non. Khi sinh hoạt vợ chồng nên dùng bao cao su để không cho tinh dịch vào cổ tử cung và âm đạo. Vì trong tinh dịch có nồng độ cao prostalandin, chất này dễ gây cơn co tử cung và mở cổ tử cung dễ gây ra đẻ non. Không nên đụng chạm hoặc kích thích vú và đầu núm vú của thai phụ vì như vậy sẽ gây ra cơn co tử cung nhiều và cũng dễ gây ra đẻ non

Kết luận:

Mang thai và cho con bú là thời điểm “nhạy cảm về dinh dưỡng”. Tuy nhiên, mối đe doạ suy dinh dưỡng bắt đầu từ khi mang thai cho đến lúc sinh. Một người mẹ bị suy dinh dưỡng từ khi còn trong bụng mẹ, lúc trẻ thơ hay khi đã trưởng thành có nguy cơ bị suy dinh dưỡng khi mang thai nhiều hơn là những phụ nữ khác. Tình trạng dinh dưỡng của mẹ sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ cũng như tình trạng dinh dưỡng của đứa trẻ khi sinh ra.

Số lượt đọc:  168  -  Cập nhật lần cuối:  11/11/2010 09:49:40 AM
Bài mới:  
Bài đã đăng: