Ước tính có khoảng 20 triệu trẻ em bị suy dinh dưỡng cấp
tính thể nặng trên toàn thế giới. Theo tổ chức Y tế thế giới, suy dinh dưỡng
nặng được xác định bằng ngưỡng dưới -3 SD của chỉ tiêu cân nặng theo chiều cao.
Với trẻ em từ 6-59 tháng tuổi, chỉ tiêu chu vi giữa cánh tay dưới 110mm được
xem là suy dinh dưỡng cấp tính thể nặng. Hầu hết số trẻ bị suy dinh dưỡng ở mức
độ này sống ở khu vực nam á và cận Sahara.
Cán bộ dinh dưỡng cộng đồng có thể dễ dàng xác định trẻ bị suy
dinh dưỡng cấp tính thể nặng bằng việc sử dụng thước đo chu vi vòng cánh tay
hoặc xác định biểu đồ t ăng trưởng (dưới đường -3SD, tương đương với trẻ bị suy
dinh dưỡng kênh C) 
Khi trẻ được xác định bị suy dinh dưỡng cấp tính thể nặng,
cần có sự khẳng định lại
của cán bộ y tế và can thiệp điều
trị tại cộng đồng hoặc cơ sở y tế. Chẩn
đoán sớm và thực hiện các can thiệp
từ tuyến cơ sở có thể giúp trẻ
tránh được những ảnh hưởng suốt đời của suy dinh dưỡng nặng. Các nghiên cứu cho
thấy 80% số ca bị suy dinh dưỡng cấp tính thể nặng có thể điều trị khỏi tại
nhà.
1.
Nguyên nhân chính gây nên suy dinh dưỡng ở trẻ nhỏ
- Chế độ ăn thiếu về số
lượng và chất lượng.
-
Mắc các bệnh nhiễm
khuẩn đặc biệt là tiêu chảy, sởi, viêm cấp đường hô hấp...
2.
Những yếu tố
nguy cơ làm trẻ dẫn mắc suy dinh dưỡng
- Cân nặng sơ sinh thấp
< 2500 g.
-
Trẻ không được bú mẹ
hoặc thời gian bú mẹ dưới 1 năm.
-
Cho trẻ ăn bổ sung
(ăn sam, ăn dặm) sớm trước 4 tháng.
-
Trẻ ở gia đình đông
con, đẻ dày.
-
Trẻ bị các bệnh nhiễm
khuẩn như tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp cấp tính, sởi.
3.
Đánh giá tình
trạng dinh dưỡng của trẻ
Các bà mẹ cần cân con thường xuyên hàng tháng và sử dụng biểu đồ phát triển để nhận biết sự
phát triển thể lực của trẻ. Với chỉ tiêu cân/ tuổi ở mức kênh A là trẻ bình
thường, trẻ ở kênh B là SDD vừa, kênh C là SDD nặng và kênh D là SDD rất nặng.
Những trẻ Suy dinh dưỡng thể cân nặng theo tuổi dưới -3SD,
hoặc có số đo chu vi vòng cánh tay dưới 110mm cần phải có chế độ phục hồi dinh
dưỡng hợp lý.
4.
Hướng dẫn nuôi
trẻ SDD tại nhà
- Trẻ SDD thường biếng ăn
nên người mẹ cần chăm sóc trẻ ăn uống chu đáo hơn, dỗ dành trẻ để trẻ ăn được
nhiều.
- Người mẹ hoặc bà trực
tiếp cho trẻ ăn, không nên để trẻ hoặc anh chị nhỏ lo liệu bữa ăn cho trẻ
-
Trước hết phải chú ý
tới vệ sinh thực phẩm và vệ sinh ăn uống. Trước khi nấu ăn và cho trẻ ăn cần
rửa tay bằng xà phòng. Nấu xong cho trẻ ăn ngay, không để thức ăn nguội lạnh.
Nếu dùng thức nấu trước thì phải bảo quản che đậy cẩn thận và trước khi cho ăn
phải đun sôi lại.
-
Nguyên tắc chế biến
thức ăn cho trẻ là dùng thức ăn từ loãng đến đặc, từ ít đến nhiều, từ mềm đến
cứng, từ một loại thức ăn cho đến nhiều thức ăn hỗn hợp và với lượng tăng từ từ
theo tuổi.
Cụ thể nuôi dưỡng trẻ
theo nhóm tuổi như sau:
Trẻ nhỏ dưới 6 tháng tuổi:
- Cho trẻ bú mẹ hoàn
toàn bất cứ khi nào trẻ muốn kể cả ngày lẫn đêm.
- Không nên cho trẻ ăn
uống thứ gì ngoài khác sữa mẹ.
-
Không cho trẻ bú
chai.
Trẻ trên 6 tháng tuổi:
-
Bú mẹ hoàn toàn cả
ngày lẫn đêm khi nào trẻ muốn, ít nhất cho bú 8 lần trong một ngày đêm.
- Cho trẻ ăn thêm 1- 2
bữa bột đặc dần với các loại thức ăn bổ sung cho trẻ trên 6 - 12 tháng tuổi.
Trẻ trên 6 - 12 tháng tuổi:
- Cho trẻ bú mẹ bất cứ
khi nào trẻ muốn.
-
Cho trẻ ăn bột đặc
với các loại thực phẩm trong 4 nhóm thực phẩm (tô màu bát bột)
-
Bột đặc với:
- Thịt (thịt lợn, bò,
gà...) hoặc cá, tôm, cua, trứng, sữa hoặc đậu, lạc, vừng... băm nhỏ. - Rau xanh nghiền nhỏ:
Rau ngót, rau muống, rau cải, bắp cải, xu hào, khoai tây...
- 1 - 2 thìa dầu hoặc
mỡ.
-
Số bữa ăn: Cho trẻ ăn
3 bữa/ ngày nếu còn bú mẹ và 5 bữa/ ngày nếu trẻ đã cai sữa. Mỗi bữa cho trẻ ăn
3/ 4 đến 1 bát.
-
Cho trẻ ăn thêm hoa
quả có sẵn tại địa phương sau khi ăn và vào giữa các bữa chính như chuối, hồng
xiêm, cam, xoài, đu đủ, táo, na...
Trẻ từ 12 tháng - 2 tuổi:
- Tiếp tục cho bú mẹ
khi nào trẻ muốn.
-
Cho trẻ ăn phối hợp
nhiều loại thức ăn phối hợp như cháo đặc, cơm nát, bún, phở cùng với:
-
Thịt (thịt lợn, bò,
gà...) ninh nhừ hay băm, thái nhỏ hoặc với tôm, cua, cá, trứng, hến...
-
Rau xanh: Rau ngót,
rau cải, rau muống, bắp cải, xu hào.
-
Mỡ hoặc dầu: 1 - 2
thìa/ bữa
-
Số bữa: Cho trẻ ăn 5
bữa/ ngày, mỗi bữa ít nhất 1 đến 1,5 bát.
-
Cho trẻ ăn thêm hoa
quả có sẵn ở địa phương như chuối, hồng xiêm, cam, xoài, đu đủ, táo, na...
Trẻ lớn 2 tuổi:
- Cho trẻ ăn 3 bữa cùng
gia đình, ưu tiên cho trẻ thức ăn có nhiều chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm,
trứng và các loại rau xanh.
-
Giữa các bữa chính
nên cho trẻ ăn thêm ít nhất 2 bữa phụ bằng các loại sữa, bánh, chuối và tào
phở.
-
Cho trẻ ăn thêm hoa
quả có sẵn ở địa phương như chuối, hồng xiêm, cam, xoài, đu đủ, táo, na...
5.
Chăm sóc trẻ suy dinh dưỡng
- Trẻ suy dinh dưỡng thường yếu và
hay quấy khóc, vì vậy cần sự chăm sóc của mẹ và người lớn trong gia đình.
-
Cần giữ gìn vệ sinh
thân thể, quần áo cho trẻ. Thường xuyên tắm rửa cho trẻ, rửa tay bằng xà phòng
cho trẻ trước khi ăn và sau khi đi ngoài. Mặc quần áo ấm về mùa đông và thoáng
mát về mùa hè.
-
Cho trẻ ngủ ở nới
thoáng và yên tĩnh, bảo đảm cho trẻ ngủ đẫy giấc, ngủ theo nhu cầu của trẻ.
Nguồn:
Newcare Số lượt đọc:
299
-
Cập nhật lần cuối:
01/12/2010 06:01:45 PM | Lịch tiêm chủng cho trẻ em
Tiêm
vắc- xin phòng bệnh có vai trò vô cùng quan trọng trong việc ngăn ngừa
các bệnh nguy hiểm đối với trẻ. Tiêm phòng vắc- xin là phương án hiệu
quả làm giảm nguy cơ mắc các bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ em như:
bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, sởi...
Chăm sóc trẻ bị nhiễm giun Nhiễm giun, sán thường không phải là bệnh nguy hiểm nhưng nếu không phát
hiện và điều trị sẽ khiến trẻ bị suy dinh dưỡng, thiếu máu, thiếu
sắt... Đó là chưa kể tình trạng sức đề kháng của cơ thể trẻ bị giảm, tạo
điều kiện cho bệnh khác phát triển hay tình trạng tắc ruột, tắc ống mật
do giun. Ai cũng có thể bị nhiễm giun, sán nếu chăm sóc sức khỏe, giữ
gìn vệ sinh, ăn uống kém. Tuy nhiên, trẻ em là đối tượng dễ nhiễm bệnh
nhất vì trẻ em tiếp xúc nhiều với các yếu tố nguy cơ. Những trẻ nhiễm
giun đũa thường gầy còm, chậm lớn, thỉnh thoảng kêu đau bụng, ăn không
ngon miệng, ngủ không ngon, biếng ăn, rối loạn tiêu hóa, phân lỏng, hay
buồn nôn, nôn ra thức ăn, có khi nôn ra cả giun... Trẻ hay bực tức, quấy
khóc, tính tình thay đổi, lười vận động... Bài đã đăng: Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ bị viêm nhiễm đường hô hấp cấp tính Trẻ bị suy dinh dưỡng thì khả năng miễn dịch hay yếu nên dễ bị mắc bệnh và khi mắc thường nặng, dễ biến chứng và thời gian bị bệnh kéo dài. Khi bị các bệnh nhiễm trùng thì lại làm cho tình trạng SDD nặng thêm. Vì vậy, việc phòng chống SDD và các bệnh nhiễm khuẩn cần thực hiện đồng bộ, phối hợp. Chăm sóc nuôi dưỡng trẻ bị tiêu chảy Khi trẻ bị tiêu chảy, ngoài việc điều trị bằng thuốc thì việc chăm sóc và nuôi dưỡng trẻ đúng cách là rất quan trọng, sẽ giúp trẻ mau khỏi bệnh và mau chóng hồi phục. Trẻ bị tiêu chảy cần nhiều dịch hơn bình thường để bù lại lượng dịch mất qua phân và nôn do vậy ngay tại nhà cần cho trẻ uống nhiều nước hơn bình thường như ORS, nước cháo, súp, nước gạo rang, nước cơm và nước đun sôi để nguội Một số công thức chế biến thức ăn bổ sung cho trẻ trong thời kì ăn dặm Ăn dặm rất quan trọng trong sự phát triển của trẻ. Khi trẻ đạt 6 tháng, lượng sữa đơn thuần không đáp ứng nổi nhu cầu để trẻ phát triển, nhất là lượng sắt, kẽm, đạm… Do đó, trẻ cần có thêm nguồn thức ăn đa dạng khác ngoài sữa. Tuy nhiên, việc cho trẻ ăn dặm sẽ làm trẻ tăng tiếp xúc với những nguồn thức ăn đa dạng, kể cả tăng nguy cơ nhiễm khuẩn...
Số lượng, tính đa dạng của thực phẩm và tần xuất cho trẻ ăn thức ăn bổ sung Sữa mẹ cung cấp một số lượng cần thiết năng lượng và các chất dinh dưỡng
nhưng khi
trẻ lớn lên và hoạt động nhiều hơn, đến độ tuổi mà sữa mẹ không đủ thoả mãn nhu
cầu của trẻ và lúc đó trẻ cần phải được ăn bổ sung để bù đắp sự thiếu hụt về
dinh dưỡng đặc biệt là về sắt và năng lượng. Thực phẩm bù đắp thiếu hụt dinh dưỡng ở trẻ emCơ
thể sử
dụng thức ăn để tạo năng lượng nhằm duy trì sự sống, sự lớn lên, chống
lại
bệnh tật và cho các hoạt động sống. Nếu trẻ không nhận đầy đủ thức ăn
bổ dưỡng, trẻ sẽ không đủ năng lượng để phát triển và hoạt động chúng
ta phải cho trẻ ăn bổ sung các thức ăn giàu chất dinh dưỡng có nguồn gốc
từ động vật, rau, củ, quả.... Thời điểm thích hợp cho trẻ ăn bổ sung Lý do chính làm cho
bé chậm lớn là sữa mẹ không đáp ứng đủ cho nhu cầu phát triển của trẻ.
Vì vậy ăn bổ sung nên bắt đầu khi trẻ không nhận đủ năng lượng và các
chất dinh dưỡng từ sữa mẹ. Đối với phần lớn trẻ, đó là lúc trẻ sau 6
tháng tuổi. Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ Sữa mẹ là chất dinh dưỡng hoàn hảo, dễ hấp thu và sử dụng có hiệu quả cao. Trẻ bú mẹ sẽ lớn nhanh đồng thời trong sữa mẹ có nhiều kháng thể giúp trẻ chống lại các bệnh nhiễm khuẩn do vậy trẻ bú mẹ sẽ ít mắc các bệnh tiêu chảy, viêm phổi và các bệnh khác hơn trẻ nuôi bằng sữa nhân tạo. Ngoài ra sữa mẹ còn làm giảm quá trình mang thai mới, bảo vệ sức khoẻ bà mẹ |